Cá voi xanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá voi xanh[1]
Bluewhale877.jpg
Cá voi xanh trưởng thành tại đông Thái Bình Dương.
Blue whale size.svg
Kích cỡ so với một người trung bình
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum)

Chordata

(không phân hạng) Craniata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Cận ngành (infraphylum) Gnathostomata
Liên lớp (superclass)

Tetrapoda

(không phân hạng) Synapsida
(không phân hạng) Reptiliomorpha
(không phân hạng) Amniota
(không phân hạng) Mammaliaformes
Lớp (class) Mammalia
Phân lớp (subclass) Theria
Cận lớp (infraclass) Placentalia
Liên bộ (superordo)

Laurasiatheria

(không phân hạng) Cetartiodactyla
Bộ (ordo) Cetacea
Phân bộ (subordo) Mysticeti
Họ (familia) Balaenopteridae
Chi (genus) Balaenoptera
Loài (species) B. musculus
Danh pháp hai phần
Balaenoptera musculus
(Linnaeus, 1758)
Bản đồ phân bố
Bản đồ phân bố
Phân loài
  • B. m. brevicauda Ichihara, 1966
  •  ?B. m. indica Blyth, 1859
  • B. m. intermedia Burmeister, 1871
  • B. m. musculus (Linnaeus, 1758)

Cá voi xanh, còn gọi là cá ông là một loài động vật có vú sống tại các đại dương. Chúng sinh sống trong tất cả các đại dương trên thế giới. Với chiều dài lên tới 30 mét (98 foot) và trọng lượng trên 170 tấn. Chúng được biết đến là loài sinh vật to lớn nhất đã [và đang] sống trên Trái Đất.[3][4]

Có ít nhất 3 phân loài cá voi xanh: B. m. musculus sống ở vùng biển bắc Đại Tây Dương và bắc Thái Bình Dương, B. m. intermedia sống ở vùng biển phía Nam và B. m. brevicauda (cá voi xanh lùn) sống ở Ấn Độ Dương và nam Thái Bình Dương. Giống như các loài cá voi khác, thức ăn của chúng chủ yếu là sinh vật phù du và giáp xác nhỏ.

Trước thế kỉ 20, cá voi xanh tồn tại với số lượng cá thể lớn ở hầu hết các đại dương trên thế giới. Nhưng hơn 100 năm qua, chúng bị săn bắn đến mức gần như tuyển chúng cho đến khi được bảo vệ bởi luật pháp quốc tế vào năm 1966. Theo một báo cáo vào năm 2002, có xấp xỉ 5.000 - 12.000 cá thể sống trên thế giới bao gồm 5 quần thể. Trước khi bị săn bắt ráo riết, quần thể cá voi xanh lớn nhất ở vùng biển Nam cực có khoảng 239.000 cá thể (từ 202.000 tới 311.000). Các quần thể nhỏ hơn khác (khoảng 2000 cá thể) tập trung ở các vùng biển Đông bắc Thái Bình Dương, Nam Cực. Có 2 quần thể khác ở Bắc Đại Tây Dương và ít nhất 2 quần thể nữa ở Nam Bán Cầu.

Bề ngoài và kích thước[sửa | sửa mã nguồn]

Chúng to gấp 3 lần khủng long T-rex và dài gấp 1,5 lần khủng long cổ dài. Da của chúng màu xanh xám, da bụng có nhiều đốm màu sáng. Chúng có 2 vây bơi hai bên dài 2,4 m.

  • Trọng lượng: khoảng 210 tấn.[cần dẫn nguồn]
  • Kích thước: 25–27 m (con cá voi xanh dài nhất được biết đến hiện nay: 33,50 m)

Cá voi xanh sống ở bắc cực có lớp mỡ dày. mạch máu cá voi xanh rộng khoảng 1,5 cm

Đời sống[sửa | sửa mã nguồn]

Vì cá voi xanh không có chu kì di trú nhất định cũng như khả năng bắt gặp cá voi xanh là rất hiếm nên hiện nay người ta chưa biết nhiều về đời sống cá thể và quần thể của cá voi xanh. Cá voi xanh sống đơn lẻ hay di chuyển theo cặp hay một nhóm nhỏ. Tuy các nghiên cứu cho thấy cá voi xanh thích kiếm ăn ở những vùng biển lạnh, nhưng chúng lại có tập tính di cư đến các vùng nước ấm để sinh sản.

Kẻ thù và độ tuổi[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi thọ trung bình: 35-40 năm nhưng cũng có thể lên đến 80-90 năm. Với kích thước to lớn như vậy, cá voi xanh hầu như không có bất kì kẻ thù tự nhiên nào là đáng lo ngại. Ngoại trừ cá voi sát thủ (orcas) có thể tấn công cá voi xanh con.

Thức ăn và cách săn mồi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thức ăn: sinh vật phù du (nhuyễn thể); các loài tôm, tép tí hon; một vài loài cá nhỏ và phân hải cẩu.
  • Nơi kiếm ăn: Các loài cá voi nói chung đều thường thích kiếm ăn ở các vùng biển lạnh, cụ thể như: Nam và Bắc Đại Tây Dương, Nam và Bắc Thái Bình Dương(đây là những nơi kiếm ăn tốt nhất với chúng)
  • Cách ăn: Nuốt chửng
  • Cách săn mồi: Cá voi xanh tấn công một cách nhanh nhẹn vào một tập đoàn sinh vật đông đúc bằng cách lặn sâu xuống lòng biển và trồi lên từ phía dưới. Mỗi lần trồi lên, cá voi xanh mở to cái miệng rộng của mình ra để đớp lấy cả phiêu sinh vật lẫn nước biển. Bộ răng lược sẽ giữ phiêu sinh vật lại và nước biển sẽ chảy ngược ra ngoài. Cá voi xanh có thể lặn sâu 105 m và lặn liên tục trong vòng 1 tiếng đồng hồ.

Điều kì thú[sửa | sửa mã nguồn]

Cá voi xanh được mệnh danh là những ca sĩ lãng du khắp các đại dương. Vì cá voi xanh có thể phát ra âm thanh siêu trầm ở tần số 14 Hz. Và đó cũng là thứ âm thanh lớn nhất trên thế giới, lớn hơn cả tiếng rít của máy bay phản lực với cường độ 200 decibel. Nếu so sánh với tiếng hét của loài người ở 70 decibel, âm thanh cao hơn 120 decibel gây nguy hiểm cho tai người.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ thể hình thoi, lông gần như tiêu biến hoàn toàn, có lớp mỡ dưới da rất dày, cổ không phân biệt với thân, vây đuôi nằm ngang, bơi bằng cách uốn mình theo chiều dọc. Chi trước biến đổi thành vây bơi dạng bơi chèo. Song vẫn được nâng đỡ bởi các xương chi như ở động vật có xương sống ở cạn, có xương cánh tay và xương ống tay ngắn, các xương ngón tay lại rất dài, chi sau tiêu giảm. Cá voi xanh sinh sản trong nước, nuôi con bằng sữa. Cá voi xanh sống chủ yếu ở biển ôn đới và biển lạnh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bản mẫu:MSW3 Mead
  2. ^ Reilly, S.B., Bannister, J.L., Best, P.B., Brown, M., Brownell Jr., R.L., Butterworth, D.S., Clapham, P.J., Cooke, J., Donovan, G.P., Urbán, J. & Zerbini, A.N. (2008). Balaenoptera musculus. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2008.
  3. ^ “Size and Description of the Blue Whale Species”. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2007. 
  4. ^ “Blue Whale Balaenoptera musculus (bằng tiếng Anh). Website National Geographic. Truy cập 11 tháng 10 năm 2013. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Balaenoptera musculus tại Wikimedia Commons