Cá nhám voi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá nhám voi
Thời điểm hóa thạch: 60–0Ma
[1]
Whale shark Georgia aquarium.jpg
Cá nhám voi tại Bể cảnh Georgia, Đài Loan
Rhtyp u0 white bg.gif
Kích cỡ so với một người bình thường
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Chondrichthyes
Phân lớp (subclass) Elasmobranchii
Bộ (ordo) Orectolobiformes
Họ (familia) Rhincodontidae
(MüllerHenle, 1839)
Chi (genus) Rhincodon
Smith, 1829
Loài (species) R. typus
Danh pháp hai phần
Rhincodon typus
(Smith, 1828)
Phân bố của cá nhám voi
Phân bố của cá nhám voi

Cá nhám voi hay cá mập voi (danh pháp hai phần: Rhincodon typus) là một thành viên đặc biệt trong phân lớp Elasmobranchii (cá mập, cá đuối) của lớp Cá sụn (Chondrichthyes). Nó là loài cá mập lớn nhất và cũng là một trong những loài hiện còn sinh tồn có kích thước lớn nhất. (Loài cá nhỏ nhất hiện được biết là thuộc chi Paedocypris trong họ Cá chép.)

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Loài này được nhận dạng lần đầu tiên năm 1828 ngoài bờ biển Nam Phi. Họ Rhincodontidae đã không được thông qua cho tới tận năm 1984. Tên gọi "cá nhám voi" có lẽ là do kích thước lớn của nó.

Phân bố và môi trường sống[sửa | sửa mã nguồn]

Cá nhám voi sinh sống trong các đại dương thuộc vùng nhiệt đới và ôn đới ấm của thế giới. Được coi là sống ngoài đại dương nhưng chúng cũng tụ tập lại theo mùa ở một vài khu vực ven bờ như dải đá ngầm Ningaloo ở khu vực miền tây Úc cũng như PembaZanzibar ở khu vực ven bờ đại dương của Đông Phi. Khu vực phân bố của chúng giới hạn trong khoảng vĩ độ ±30 ° tính từ các khu vực này. Cá nhám voi chủ yếu sống cô độc và ít khi thấy chúng bơi thành đàn. Người ta tin rằng chúng sống di trú, nhưng các chuyên gia vẫn không rõ chúng có thể di cư xa bao nhiêu (có thể là di trú xuyên đại dương).

Giải phẫu và bề ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Kích thước lớn chính thức của chúng được đo chính xác là dài 12 mét (39 ft), với các số liệu không chính thức lên tới 18 mét (59 ft). Không nên nhầm lẫn chúng với cá nhám phơi nắng (Cetorhinus maximus), loài cá lớn thứ hai.

Là thành viên của bộ Cá nhám râu (Orectolobiformes), nó là loại cá ăn uống theo cơ chế lọc bỏ. Nó có miệng rộng có thể lên tới 1,5 m (5 ft) và chứa tới 300 răng nhỏ. Là một phần trong quá trình ăn uống của mình, nó có 5 cặp mang lớn. Hai mắt nhỏ nằm ngay ở phần trước của cái đầu rộng và bẹt. Thân của chúng có màu xám chuyển thành trắng ở phần bụng; với ba lằn gân rõ nét chạy dọc theo mỗi bên hông và da của chúng giống như 'bàn cờ đam' với các đốm màu vàng nhạt và các sọc. Các đốm này là duy nhất cho từng cá thể. Do vậy các đốm này có thể dùng để đánh dấu mỗi con cá nhám voi nhằm thực hiện việc kiểm đếm chính xác số lượng cá nhám voi. Tuy nhiên, cho tới nay người ta vẫn không biết rõ về số lượng của chúng. Lớp da của chúng có thể dày tới 10 cm. Các nhám voi có hai cặp vây lưngvây ngực. Đuôi của cá nhám voi non có vây trên lớn hơn vây dưới nhưng ở cá nhám voi trưởng thành thì đuôi có hình bán nguyệt hay hình trăng lưỡi liềm. Các lỗ thở của chúng nằm ngay sau mắt. Cá nhám voi không phải là những tay bơi lội cừ khôi; toàn thân của nó chuyển động khi nó bơi, kết quả là nó có vận tốc thấp rất bất thường cho các loại cá mập, vận tốc trung bình của nó chỉ là khoảng 5 km/h.

Ăn uống[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhám voi ăn các loại sinh vật phù du, tảo lớn, nhuyễn thể hay các loại mực và động vật có xương sống nhỏ. Các răng nỏ li ti không giúp ích gì cho quá trình ăn uống của nó, thay vì thế, nước bị hút vào qua miệng và đi qua mang lược và sau đó bị tống ra khỏi bằng mang cung. Những gì mắc lại tại mang lược được nó nuốt hết. Cá nhám voi có thể luân chuyển nước với tốc độ tới 1,7 L/s (3,5 panh (pint) Hoa Kỳ/s). Tuy nhiên, cá nhám voi là loài tích cực săn mồi và chúng phát hiện các mục tiêu như các chỗ có nhiều sinh vật phù du hay cá nhờ các tín hiệu khứu giác chứ không phải luôn luôn chỉ là cơ chế 'hút bụi'.

Theo lời của những thủy thủ thì cá nhám voi tập trung tại các bãi đá ngầm ngoài khơi bờ biển Belize (vùng Caribe), là nơi có thể bổ sung thêm cho thức ăn thông thường của chúng các loại trứng cá chỉ vàng, được các loài cá này đẻ vào giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm trong khoảng thời gian 6-7 ngày kể từ ngày trăng tròn trong các tháng này.

Hành xử[sửa | sửa mã nguồn]

Khi cần giải thích là phần lớn các loại cá mập không gây nguy hiểm cho con người thì loài này là một ví dụ điển hình. Những người thợ lặn có thể bơi xung quanh loài cá khổng lồ này mà không gặp phải vấn đề gì.

Cá nhám voi có thể gặp tại các khu vực biển của Thái Lan, Maldives, Hồng Hải, tây Úc (dải đá ngầm Ningaloo), khu bảo tồn hải dương Gladden Spit ở Belize, và tại quần đảo Galapagos. Những thợ lặn may mắn cũng có thể gặp chúng tại Seychelles, Puerto RicoPhilipin (Donsol).

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như phần lớn các loại cá mập khác, tập tính sinh sản của cá nhám voi vẫn chưa được rõ. Dựa trên nghiên cứu một quả trứng đơn lẻ tìm thấy ngoài khơi Mexico vào năm 1956, người ta cho rằng chúng là loài đẻ trứng, nhưng con cá nhám voi cái có chửa bị bắt vào tháng Bảy năm 1996 chứa tới 300 cá nhám voi con [1] lại chỉ ra rằng chúng là loài đẻ con với sự phát triển của cơ chế đẻ trứng thay. Các trứng phát triển thành cá con trong cơ thể con mẹ bằng các nguồn dưỡng chất ngay trong trứng và con mẹ sẽ đẻ các con non dài 40 – 60 cm. Người ta tin rằng cá nhám voi đạt tới độ tuổi trưởng thành vào khoảng 30 năm và chúng có tuổi thọ ước tính khoảng 60 - 150 năm.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jurassic Shark (2000) documentary by Jacinth O'Donnell; broadcast on Discovery Channel, 5 August 2006
  2. ^ Norman, Brad (2000). Rhincodon typus. Sách đỏ 2006. IUCN 2006. Truy cập 11 tháng 5 năm 2006. Mục của CSDL có kèm lý giải tại sao loài này sắp nguy cấp.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]