Cá tai tượng
| Cá tai tượng | |
|---|---|
Cá tai tượng trưởng thành. |
|
| Phân loại khoa học | |
| Giới (regnum) | Animalia |
| Ngành (phylum) | |
| (không phân hạng) | Craniata |
| Phân ngành (subphylum) | Vertebrata |
| Phân thứ ngành (infraphylum) | Gnathostomata |
| Liên lớp (superclass) | Osteichthyes |
| Lớp (class) | Actinopterygii |
| Phân lớp (subclass) | Neopterygii |
| Phân thứ lớp (infraclass) | Teleostei |
| Liên bộ (superordo) | Acanthopterygii |
| Bộ (ordo) | Perciformes |
| Phân bộ (subordo) | Anabantoidei |
| Họ (familia) | Osphronemidae |
| Phân họ (subfamilia) | Osphroneminae |
| Chi (genus) | Osphronemus |
| Loài (species) | O. goramy |
| Danh pháp hai phần | |
| Osphronemus goramy Lacépède, 1801 |
|
Cá tai tượng [có hai loại tai tương một la tai tượng ta và tai tượng phi châu] hay cá phát tài hoặc cá hồng phát (danh pháp hai phần: Osphronemus goramy) là một loài cá xương nước ngọt thuộc họ Cá tai tượng (Osphronemidae), sống ở vùng nước lặng, nhiều cây thuỷ sinh[1], phân bố ở vùng đồng bằng Nam Bộ Việt Nam. Đây là loài cá đặc trưng cho vùng nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở Borneo, đảo Sumatra (Indonesia), Thái Lan, Campuchia, Lào. Tại Việt Nam cá tai tượng phân bố tự nhiên ở sông Đồng Nai, khu vực La Ngà[2]. Đây là loài cá có khả năng thích nghi đặc biệt với điều kiện khắc nghiệt của môi trường.
Mục lục |
Đặc điểm sinh học [sửa]
Cá có thân dẹt bên, dài gần gấp đôi chiều cao. Mõm nhọn, miệng khá rộng, vây lưng dài, tia vây mềm đầu tiên của vây bụng hình sợi, kéo dài về phía sau. Vây đuôi tròn. Cá một tuổi nặng 0,5 kg, 3 tuổi trên 1,5 kg.[1]
Môi trường sống [sửa]
Cá tai tượng sống ở ao hồ, đầm nước ngọt cá có cơ quan hô hấp nên cá sống được ở nước tù, thiếu oxy (hàm lượng oxy 3 mg/lit). Cá tai tượng sống được ở nước lợ, độ mặn 6%o ngưỡng nhiệt độ 16-42°C, sinh trưởng tốt ở 25-30°C; pH=5.[2] Chúng có thể sống được trong môi trường nước ao dơ bẩn, thiếu ôxygen nhờ cơ quan hô hấp phụ nằm ở cung mang thứ nhất, cá còn có thể sống trong nước có độ pH bằng 4, nước nhiễm mặn có nồng độ muối dao động từ 6-8‰, chúng có thể sống được trong điều kiện nhiệt độ nước dao động từ 16-42°C. Tuy nhiên cá sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ nước 22-30°C, ở nhiệt độ thấp hơn cá thường hay bị bệnh. So với cá sặc rằn và cá rô phi thì khả năng chịu lạnh của cá tai tượng kém hơn, nhưng khả năng chịu nóng lại cao hơn.
Tập tính ăn và sinh sản [sửa]
Cá tai tượng thuộc nhóm cá ăn tạp và thiên về thực vật. Cá trưởng thành ăn tạp thiên về thực vật (các loại rau, bèo). Khi mới nở cá sống nhờ dinh dưỡng từ noăn hoàng; sau 5 - 7 ngày sử dụng hết noăn hoàng cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài là luân trùng Cladocera, trùng chỉ Tubifex, cung quăng Chironomus, ấu trùng của các loài côn trùng khác. Thức ăn đầu tiên của cá bột là động vật phù du cỡ nhỏ và vừa như: Moina, Daphnia, Cyslops do kích thước cá bột tương đối lớn. Sau hai tuần tuổi, cá đã ăn đượcc trùng chỉ, cung quăng, sâu bọ, bèo cám.... 1 tháng tuổi cá chuyển sang ăn tạp, nghiêng về động vật 84,7% và càng về sau chúng chuyển sang ăn thực vật là chính chiếm 87,5%. Trong ao nuôi, cá ăn được những loài thực vật mềm ở dưới nước và trên cạn, các phụ phẩm từ nhà bếp, sản phẩm giết mổ và phân động vật.
Cá làm tổ và đẻ trứng. Cá tai tượng thành thục lần đầu sau 2 năm. Cá nhỏ nhất tham gia sinh sản là 300-400 g. Cá đẻ có chất lượng tốt nhất từ 3 - 7 tuổi nặng 2–5 kg. Mùa vụ sinh sản, đẻ tập trung vào tháng 2-5, giảm đẻ từ tháng 6 trở đi.
Giá trị [sửa]
Cá tai tượng là nguyên liệu để chế biến nhiều món ăn ngon, đặc biệt là món cá tai tượng chiên xù, đây là món có hình thức cũng như hương vị hấp dẫn, rất thích hợp cho những bữa ăn gặp mặt hay một bàn nhậu[3][4] Cá tai tượng chiên xù cuốn bánh tráng, rau sống, chấm mắm nêm là món ăn cực kỳ dân dã của người dân miền Tây Nam Bộ.[5]
Ngoài ra cá tai tượng còn dùng để làm cá cảnh, dùng để làm thú vui câu cá.
Lưu ý [sửa]
Không nhầm cá tai tượng với cá tai tượng châu Phi (còn gọi là cá heo lửa hoặc cá heo Phi châu hoặc mang nhiều tên khác, như Oscar, hoặc Peacock-Cichild), có tên khoa học là Astronotus ocellatus (đồng nghĩa: Lobotes ocellatus (trước năm 1800)) thuộc họ Cichlidae.
Tham khảo [sửa]
- ^ a b Mục từ cá tai tượng trên Bách khoa toàn thư
- ^ a b http://www.khoahocthuysan.org/home/forum/viewtopic.php?f=18&t=75
- ^ http://vietbao.vn/Doi-song-Gia-dinh/Ca-tai-tuong-chien-xu/10767079/239/
- ^ http://www.vatgia.com/660/25108/c%C3%A1-tai-t%C6%B0%E1%BB%A3ng-chi%C3%AAn-x%C3%B9.html
- ^ http://thitruongvietnam.com.vn/gpmaster.gp-media.thi-truong-viet-nam.gplist.107.gpopen.7093.gpside.1.doi-mon-voi-ca-tai-tuong-chien-xu-.asmx
Liên kết ngoài [sửa]
| Wikispecies có thông tin sinh học về: Cá tai tượng |
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Cá tai tượng. |
- Osphronemus goramy (TSN 638762) tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS).
- Thông tin "Osphronemus goramy" trên FishBase, chủ biên Ranier Froese và Daniel Pauly. Phiên bản tháng 01 năm 2006.
- Cá tai tượng tại trang National Center for Biotechnology Information (NCBI).
- Cá tai tượng tại Encyclopedia of Life
Trên thị trường nước ta có 2 giống tai tượng phi châu:
- Cá bông và cá lửa