Chè (thực vật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chè
Csinensis.jpg
Lá chè Camellia sinensis
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Ericales
Họ (familia) Theaceae
Chi (genus) Camellia
Loài (species) C. sinensis
Danh pháp hai phần
Camellia sinensis
(L.) Kuntze

Cây chè hay cây trà có tên khoa học là Camellia sinensis là loài cây mà lá và chồi của chúng được sử dụng để sản xuất chè (trà - đừng nhầm với cây hoa trà). Tên gọi sinensis có nghĩa là "Trung Quốc" trong tiếng Latinh. Các danh pháp khoa học cũ còn có Thea boheaThea viridis.

Camellia sinensis có nguồn gốc ở khu vực Đông Nam Á, nhưng ngày nay nó được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, trong các khu vực nhiệt đớicận nhiệt đới. Nó là loại cây xanh lưu niên mọc thành bụi hoặc các cây nhỏ, thông thường được xén tỉa để thấp hơn 2 mét (6 ft) khi được trồng để lấy . Nó có rễ cái dài. Hoa chè màu trắng ánh vàng, đường kính từ 2,5–4 cm, với 7 - 8 cánh hoa. Hạt của nó có thể ép để lấy dầu.

Chè xanh, chè ô longchè đen tất cả đều được chế biến từ loài này, nhưng được chế biến ở các mức độ ôxi hóa khác nhau.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Camellia sinensis

Lá của chè dài từ 4–15 cm và rộng khoảng 2–5 cm. Lá tươi chứa khoảng 4% caffein. Lá non có sắc xanh lục nhạt được thu hoạch để sản xuất chè. Ở thời đoạn đó, mặt dưới lá có lông tơ ngắn màu trắng. Lá già thì chuyển sang màu lục sẫm. Tùy lứa tuổi mà lá chè có thể dùng làm thành phẩm chè khác nhau vì thành phần hóa học trong lá khác nhau. Thông thường, chỉ có lá chồi và 2 đến 3 lá mới mọc gần thời gian đó được thu hoạch để chế biến. Việc thu hoạch thủ công bằng tay diễn ra đều đặn mỗi 1 đến 2 tuần.

Một số các biến thể khác nhau của C. sinensis được sử dụng để sản xuất chè:

Biến thể Assam
Phần lớn chè được sản xuất từ biến thể này (đôi khi nó được gọi là C. sinensis assamica hay C. assamica). Nó là loại cây nhỏ (thân đơn), lá to bản. Trong thiên nhiên, chè Assam cao tới 6 - 20 mét (20–65 ft); nhưng khi canh tác thì cây được xén kỹ chỉ còn cao nhỉnh trên hông người. Ở những vùng đất trũng, cây chè cần độ ẩm cao (mưa nhiều) nhưng thoát nước tốt. Những cây chè thuần hóa không chịu được nhiệt độ cao. Cây chè Assam được phát hiện năm 1823 (mặc dù nó đã được người dân địa phương sử dụng làm đồ uống từ trước đó) là một trong hai cây chè gốc. Tất cả các cây chè Assam và phần lớn chè Ceylon (Tích Lan, nay là Sri Lanka) có nguồn gốc từ cây này. Chè Assam tạo ra hương vị ngọt khi pha nước uống, không giống như vị của các loại chè Trung Hoa khác.
Biến thể Trung Quốc
Chè Trung Quốc (đôi khi gọi là C. sinensis sinensis) là loài cây lá nhỏ, nhiều thân mọc thành bụi rậm cao tới 3 mét. Đây là loại chè đầu tiên được ghi nhận với lịch sử trong văn tịch hơn 3000 năm; chè này được dùng sản xuất nhiều loại chè nổi tiếng.
Biến thể Cam pu chia
Chè Cam pu chia đôi khi được gọi là C. sinensis parvifolia. Lá chè này về kích thước trung bình, giữa lá chè Assam và lá chè Trung Quốc; nó là một loại cây nhỏ, dạng bụi. Đôi khi người ta coi biến thể này là sản phẩm lai ghép của chè Assam và Trung Quốc.

Chè tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Những cây chè Shan tuyết cổ thụ

Cây chè tại Việt Nam đến giữa thể kỷ 20 được trồng khắp miền quê ngoài BắcTrung, diện tích lớn nhất ở hai tỉnh Phú ThọQuảng Nam.[1] Loại này thân mọc cao, lá lớn và dày, có thể hái về vò nát để nấu uống tươi gọi là chè xanh. Loại thứ hai là chè đồn điền du nhập từ phương Tây, cây thấp, lá nhỏ, thường phải ủ rồi mới nấu nước. Hạng nhất là chè búp, có khi gọi văn vẻ là "chè bạch mao" hay "chè bạch tuyết" nếu búp có lông tơ trắng. Hạng nhì là hai lá chè kế. Lá thứ tư, thứ năm là chè hạng ba. Những lá dưới nữa thì dùng làm chè mạn, rẻ hơn cả.[2]

Đồn điền cây chè thì mãi đến năm 1924 thời Pháp thuộc mới bắt đầu hoạt động ở vùng Cao nguyên Trung Kỳ gồm các tỉnh Kontum, Pleiku, DarlacĐồng Nai Thượng.[3] Sang thập niên 1930 chè được đem trồng một cách quy mô trên cao nguyên vùng B'laoDjiring và vùng này sau chiếm địa vị là vựa chè.[4]

Tính đến năm 1960, Việt Nam xuất cảng 2.000 tấn chè mỗi năm.[2] Đến năm 2007 thì sản lượng chè của Việt Nam đã vượt một triệu tấn, canh tác trên 125.000 hecta.[4]

Một vài hình ảnh về chè[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dầu chè được chiết từ Melaleuca alternifolia có nguồn gốc ở Úc và không có liên quan gì đến cây chè nói trong bài này.
  • Cây chè là tên gọi đôi khi được áp dụng cho một số các loài thực vật khác không liên quan gì đến cây chè thực thụ này.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Guinard, A. "Situation de la culture en Indochine". Archives dé recherches agronomiques et pastorales au Viêt-Nam: La culture du thé en Indochine No 20. Saigon: Centre national de recherches scientifiques et techniques, 1953. tr 168
  2. ^ a ă Phan Xuân Hòa. Việt Nam gấm vóc. Sài Gòn:Institut de l'Asie du Sud-est, 289
  3. ^ Pierre Brocheux và Daniel Hémery. Indochina. Berkeley, CA: University of California Press. 2009. tr 116-180
  4. ^ a ă Nghề Làm Trà Ơ Blao

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Anh)

(tiếng Việt)