Bước tới nội dung

Ngụy (nước)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Ngụy
Tên bản ngữ
  • 魏國
403 TCN–225 TCN
Năm 260 TCN   Ngụy (Wei)   Yên (Yan)   Tề (Qi)   Triệu (Zhao)   Hàn (Han)   Tần (Qin)   Sở (Chu)
Năm 260 TCN
  Ngụy (Wei)
Vị thếVương quốc
Thủ đôAn Ấp(安邑; 403 TCN-361 TCN)
Đại Lương (大梁; 361 TCN-225 TCN)
Tôn giáo chính
Tín ngưỡng dân gian, thờ cúng tổ tiên
Chính trị
Chính phủQuân chủ
Hầu rồi vương 
• 445 TCN– 396 TCN
Ngụy Văn hầu
• 228 TCN– 225 TCN
Ngụy vương Giả
Lịch sử 
• Thành lập
403 TCN
• Giải thể
225 TCN
Kinh tế
Đơn vị tiền tệTiền Trung Quốc
Tiền thân
Kế tục
Tấn (nước)
Nhà Tần
Ngụy quốc
(triện thư, 220 TCN)

Ngụy (Phồn thể: 魏國; Giản thể: 魏国) là một quốc gia chư hầu trong thời kỳ Chiến Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Lãnh thổ của quốc gia này hiện tại tương ứng với phía Nam của tỉnh Sơn Tây, phía Bắc của tỉnh Hà Nam và phía Đông tỉnh Thiểm Tây.

Nhà nước này tồn tại từ năm 403 TCN khi Ngụy Tư được Chu Uy Liệt Vương phong tước Hầu, tức Ngụy Văn hầu. Năm 344 TCN, Ngụy Huệ Thành vương xưng Vương, bắt đầu thời kì Vương quốc của nước Ngụy và nước này nhanh chóng trở thành một trong những quốc gia hưng thịnh nhất thời kì Chiến Quốc, được liệt vào hàng ngũ Chiến Quốc Thất hùng. Năm 225 TCN, Ngụy vương Giả bị tướng nước Tần là Vương Bí bắt, Ngụy quốc chính thức diệt vong, tồn tại tổng cộng 179 năm.

Nước Ngụy cùng nước Triệunước Hàn là 3 quốc gia được hình thành sau sự tan rã của nước Tấn, vì vậy cả ba nước này còn được gọi là Tam Tấn (三晉).

Giản đồ các nước thời Chiến Quốc[1]

Khởi nguyên

[sửa | sửa mã nguồn]
Xem chi tiết: Tấn (nước)

Theo huyền sử thì thủy tổ các đời quân chủ nước Ngụy vốn họ Cơ, hậu duệ của Tất công Cao, em trai thứ 15 của Chu Vũ vương, từ đó lấy họ Tất, nhiều đời làm trọng thần thời Tây Chu. Đến cuối thời Tây Chu, Tất quốc bị quân Tây Nhung diệt vong, hậu duệ Tất công Cao sang tị nạn ở nước Tấn, phục vụ cho các vua Tấn thời Xuân Thu. Đến thời Tất Vạn, do công lao phò tá Tấn Hiến công tiêu diệt các nước Hoạch, Ngụy và Cảnh, được phong làm đại phu và được phong đất Ngụy cũ để làm thực ấp, từ đó lấy Ngụy làm họ.

Từ thời Tấn Văn công, do có nhiều công lao giúp vua Tấn làm bá chủ chư hầu, thế lực họ Ngụy ngày càng lớn mạnh. Trong thời gian dài nước Tấn làm bá chủ, nhiều thế hệ họ Ngụy tiếp tục đóng vai trò khanh tướng trong bộ máy chính quyền nước Tấn. Họ Ngụy với họ Triệu, họ Hàn, họ Trí, họ Trung Hàng và họ Phạm dần dần nắm giữ các chức vụ quan trọng trong nước, lấn át quyền lực vua Tấn, được gọi chung là Lục khanh.

Sau đó Lục khanh tranh chấp quyền lực và tiêu diệt lẫn nhau, Ngụy tồn tại được qua cuộc chiến nhiều năm này, cùng 2 họ Hàn và Triệu. Năm 403 TCN, trước thực tế là thế lực của 3 họ đã rất lớn mạnh, Chu Uy Liệt vương phong cho 3 họ làm chư hầu. Năm 376 TCN, Ngụy cùng Hàn và Triệu chiếm nốt phần đất còn lại của vua Tấn Tĩnh công, tiêu diệt hoàn toàn nước Tấn.

Năm 403 TCN là năm đánh dấu mốc thành lập chính thức của nước Ngụy.

Lãnh thổ

[sửa | sửa mã nguồn]

Nước này tiếp giáp về phía tây với nước Tần, về phía đông với nước Tề, về phía tây nam là nước Hàn, về phía nam là nước Sở và về phía bắc là nước Triệu.

Lãnh thổ của nước Ngụy bao gồm các khu vực ngày nay là bắc Hà Nam, nam Sơn Tây và phần lớn các tỉnh Hà Bắc, Thiểm Tây.

Sau khi dời đô từ An Ấp (nay ở phía tây bắc huyện Hạ tỉnh Sơn Tây) tới Đại Lương (nay là Khai Phong) trong thời kỳ trị vì của Ngụy Huệ Thành vương (369 TCN-319 TCN), thì nước Ngụy còn được gọi là Lương.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà nước này đạt tới đỉnh cao của sự phát triển trong thời kỳ trị vì của 2 vị quân chủ đầu tiên là Văn hầu Ngụy Tư và Vũ hầu Ngụy Kích.

Huệ Thành vương Ngụy Oanh, vị quân chủ thứ ba, tập trung vào việc phát triển kinh tế, bao gồm cả các dự án thủy lợi tại khu vực sông Hoàng Hà. Đây là vị vua Ngụy xưng vương đầu tiên, tuy nhiên, sự suy yếu của nhà nước này cũng đã bắt đầu từ thời Huệ Thành vương. Vị vua này cho rằng nước Tần ở phía tây là một nước yếu không có khả năng đe dọa sự ổn định của Ngụy và đất đai của họ chỉ là vùng đất hoang vu, vì thế ông tập trung vào việc xâm chiếm các vùng đất màu mỡ ở phía đông nhưng sự bành trướng của Ngụy về phía đông đã bị cản trở vài lần trong một loạt các trận chiến, bao gồm cả trận Mã Lăng diễn ra năm 341 TCN.

Mặt khác, những cải cách của nước Tần vào cùng thời kỳ đó đã làm cả kinh tế lẫn quân sự của Tần phát triển mạnh mẽ đến mức chưa từng thấy. Sau đó, Ngụy đã mất khu vực miền tây hành lang Hà Tây (một khu vực chăn thả có ý nghĩa chiến lược tại bờ tây sông Hoàng Hà, tại khu vực ngày nay là ranh giới giữa hai tỉnh Sơn Tây và Thiểm Tây) vào tay nước Tần, và kể từ đó trở đi Ngụy liên tục bị Tần xâm lược cho tới khi sụp đổ. Điều này buộc Ngụy phải dời đô từ An Ấp tới Đại Lương.

Sức mạnh quân sự của Tần đã phá vỡ liên minh giữa Ngụy và Hàn trong trận Y Khuyết năm 293 TCN. Dù vậy Ngụy vẫn có thể chinh phục tiểu quốc Vệ năm 254 TCN. Ngụy mất vào tay Tần năm 225 TCN, sau khi đại tướng nước Tần là Vương Bí cho tháo nước sông Hoàng Hà vào Đại Lương.

Các tướng văn, võ nổi tiếng

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngụy cũng có một số tướng lĩnh và chính khách giỏi, bao gồm:

Danh sách các vị quân chủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ lĩnh họ Ngụy

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời Xuân Thu, dòng họ Ngụy phục vụ cho nước Tấn đã được ban tước Tử. Từ khi được Chu Uy Liệt Vương phong chư Hầu thì thăng lên tước Hầu, đến đời thứ 3 thì xưng Vương.

Quân chủ nước Ngụy

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Ngụy Văn hầu, tên thật là (斯) hay Đô (都), trị vì từ 445 TCN tới 396 TCN.
  2. Ngụy Vũ hầu, tên thật là Kích (擊), con trai Ngụy Tư, trị vì từ 396 TCN tới 370 TCN.
  3. Ngụy Huệ Thành vương, tên thật là Oanh (罃) hay Anh (嬰), con trai Ngụy Kích, trị vì từ 370 TCN tới 319 TCN
  4. Ngụy Tương vương, tên thật là Tự (嗣) hay Hách (赫), con trai Ngụy Oanh, trị vì từ 319 TCN tới 296 TCN.
  5. Ngụy Chiêu vương, tên thật là Sắc/Tốc? (遫), con trai Ngụy Tự, trị vì từ 296 TCN tới 277 TCN.
  6. Ngụy An Ly vương, tên thật là Ngữ (圉), con trai Ngụy Tốc, trị vì từ 277 TCN tới 243 TCN.
  7. Ngụy Cảnh Mẫn vương, tên thật là Tăng (增) hay Ngọ (午), con trai của Ngụy Ngữ, trị vì từ 243 TCN tới 228 TCN.
  8. Ngụy vương Giả, tên thật là Giả (假), con trai của Ngụy Tăng, trị vì từ 228 TCN tới 225 TCN.

Theo Sử ký (史記) của Tư Mã Thiên viết trong thế kỷ 1 TCN thì danh sách các vị quân chủ hơi khác một chút, với Ngụy Huệ Thành vương chết năm 335 TCN và con trai là Ngụy Tương vương kế nghiệp năm 334 TCN. Ngụy Tương vương chết năm 319 TCN và Ngụy Ai vương kế nghiệp cho tới khi ông này mất năm 296 TCN rồi tới con trai kế nghiệp, tức Ngụy Chiêu vương.

Tuy nhiên, phần lớn các học giả và các nhà phê bình khác cho rằng Ngụy Ai vương, với tên tuổi không rõ, là không có thật. Dường như là Tư Mã Thiên đã gán nửa sau của thời kỳ trị vì của Ngụy Huệ Thành vương (bắt đầu năm 334 TCN, vào thời điểm mà người ta cho rằng Ngụy Oanh xưng vương) cho con trai ông là Ngụy Tương vương và bổ sung thêm Ngụy Ai vương vào để lấp chỗ trống cho giai đoạn từ 319 TCN tới 296 TCN. Ngược lại, một số nhà sử học vẫn cho rằng Ngụy Ai vương là có thật.

Thế phả các vị quân chủ

[sửa | sửa mã nguồn]


Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ ”MDBG”, Sökord: 战国策