Tân Hưng, Long An

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tân Hưng
Huyện
Địa lý
Tọa độ: 10°49′5″B 106°39′26″Đ / 10,81806°B 106,65722°Đ / 10.81806; 106.65722Tọa độ: 10°49′5″B 106°39′26″Đ / 10,81806°B 106,65722°Đ / 10.81806; 106.65722
Diện tích 497,4km²[1]
Dân số (ngày 1 tháng 4 năm 2009)  
 Tổng cộng 47.742 người [1]
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tỉnh Long An
Huyện lỵ Tân Hưng
 Chủ tịch UBND Hồ Văn Dân[2]
 Trụ sở UBND Khu A Thị trấn Tân Hưng, Huyện Tân Hưng, Long An
Phân chia hành chính

Tân Hưng là một huyện thuộc tỉnh Long An. Tân Hưng nằm ở vùng trũng của Đồng Tháp Mười, thường bị ngập sâu vào mùa lũ hàng năm. Cơ sở hạ tầng còn hạn chế, giao thông chủ yếu bằng đường thủy. Kinh tế của huyện còn rất khó khăn. Bên cạnh vùng ngập trũng, trên địa bàn huyện có một số gò cao, là nơi tập trung nhiều di chỉ khảo cổ học thuộc nền văn hoá Óc Eo và vương quốc Phù Nam như Gò Gòn, Gòn Bún, Gò Pháo...Điểm du lịch nổi tiếng nhất huyện là Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen[1].

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện nằm ở phía tây tỉnh Long An.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn huyện Tân Hưng có 1 thị trấn và 11 xã:

  1. Hưng Điền B
  2. Hưng Điền
  3. Hưng Hà
  4. Hưng Thạnh
  5. Thạnh Hưng
  6. Vĩnh Bữu
  7. Vĩnh Châu A
  8. Vĩnh Châu B
  9. Vĩnh Đại
  10. Vĩnh Lợi
  11. Vĩnh Thạnh

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trước ngày 30 tháng 04 năm 1975, đất Tân Hưng thuộc tỉnh Kiến Tường[1].
  • Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, đất Tân Hưng thuộc huyện Mộc Hoá, tỉnh Long An[1].

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tân Hưng là huyện vùng sâu, vùng xa của tỉnh Long An. Đây là nơi lũ về sớm nhưng lại rút chậm. Chính vì vậy, đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân gặp nhiều khó khăn. Kinh tế của huyện chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp. Nhờ thực hiện tốt công tác thủy lợi, sản xuất nông nghiệp của huyện không ngừng gia tăng qua các năm. Nếu như năm 2000, diện tích gieo trồng lúa 2 vụ là 46.933 ha, sản lượng thóc 205.000 tấn, năng suất bình quân khoảng 4,3 tấn/ha, thì đến năm 2010 diện tích gieo trồng lúa đã lên đến 65.138 ha. Nhiều cây trồng có giá trị kinh tế cao đã được đưa vào sản xuất như: mè, bắp (ngô),..[1]

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục được quan tâm đầu tư đúng mức và đi vào chiều sâu nên học sinh không phải học hè do phải nghỉ trong mùa lũ, không còn tình trạng dạy 3 ca; hệ thống trường học được xây dựng kiên cố, từng bước quy hoạch đảm bảo đạt chuẩn quốc gia thay cho các trường tranh tre tạm bợ, công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng được mở rộng. Huyện đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập trung học cơ sở.

Mạng lưới y tế được củng cố và phát triển. Nếu như năm 2000, bệnh viện huyện còn thiếu thốn mọi bề, cơ sở vật chất không đảm bảo, số trạm y tế xã có bác sĩ chỉ đạt 50% thì đến năm 2010, bệnh viện đa khoa 50 giường đã được xây dựng và đang được nâng cấp lên 100 giường với trang thiết bị hiện đại, 100% số xã có bác sĩ, 9/11 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Các chương trình y tế quốc gia đều đạt chỉ tiêu hàng năm. Đội ngũ y, bác sĩ từng bước được chuẩn hóa, đảm bảo công tác chăm sóc sức khỏe, khám - chữa bệnh cho nhân dân.

chú thích[sửa | sửa mã nguồn]