Đại Lý (huyện cấp thị)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đại Lý
大理市
—  Huyện cấp thị  —
Đại Lý thị
Chuyển tự chữ Hán
 • Giản thể 大理
 • Phồn thể 大理
 • Bính âm Dàlǐ
Lỗi Lua trong Mô_đun:Wikidata tại dòng 211: attempt to index local 'entity' (a nil value).
Vị trí của thị xã Đại Lý (hồng) và châu tự trị Đại Lý (vàng) trong tỉnh Vân Nam
Vị trí của thị xã Đại Lý (hồng) và châu tự trị Đại Lý (vàng) trong tỉnh Vân Nam
Đại Lý trên bản đồ Trung Quốc
Đại Lý
Đại Lý
Vị trí tại Trung Quốc
Tọa độ: 25°42′1″B 100°09′23″Đ / 25,70028°B 100,15639°Đ / 25.70028; 100.15639
Quốc gia Trung Quốc
Tỉnh Vân Nam
Châu tự trị Đại Lý
Diện tích
 • Tổng cộng 1.468 km2 (567 mi2)
Dân số (2000)
 • Tổng cộng 590.000
 • Mật độ 400/km2 (1,000/mi2)
Mã bưu chính 671000
Trang web http://www.dali.gov.cn/
Cổng thông tin Vân Nam

Đại Lý (tiếng Trung: 大理; bính âm: Dàlĭ; tiếng Bạch: Darl•lit; tiếng Hà Nhì: Dafli) là một huyện cấp thị tại Châu tự trị dân tộc Bạch Đại Lý, Vân Nam, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nằm trên một đồng bằng màu mỡ giữa dãy núi Thương Sơn (苍山) về phía tây và hồ Nhĩ Hải (洱海) về phía đông. Đây là nơi định cư truyền thống của người Bạchngười Di. Đại Lý là thủ phủ của Châu tự trị dân tộc Bạch Đại Lý.

Đại Lý là cố đô của hai vương quốc: vương quốc người Bạch Nam Chiếu từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 9 và vương quốc Đại Lý từ năm 937-1253. Đại Lý cũng là trung tâm của cuộc nổi dậy, sử Trung Quốc hiện nay gọi là Khởi nghĩa Đỗ Văn Tú giai đoạn 1856-1863.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Nguyên Thú thứ nhất (122 TCN) thời Hán Vũ Đế, Trương Khiên đi sứ Tây Vực trở về. Kết quả chuyến đi của ông đã kích thích vị vua này cho tìm và mở đường theo hướng tây nam tới Ấn Độ, gọi là Thục Quyên Độc đạo (Quyên Độc là tên gọi thời kỳ đó của nước Thiên Trúc), nhằm phát triển thương mại tại vùng biên cương tây nam. Năm Nguyên Phong thứ 2 (109 TCN) tại khu vực sau này là Đại Lý thì Hán Vũ Đế cho thành lập huyện Diệp Du, và đó cũng là khu vực thành lập đơn vị hành chính ở cấp huyện đầu tiên tại Vân Nam. Thời Đông Hán, khu vực này thuộc quận Vĩnh Xương ở địa khu Nam Trung. Thời Tam Quốc, sau khi thần phục đội quân nam chinh của Gia Cát Lượng thì nhà nước Thục Hán cho thiết lập quận Vân Nam. Thời Nam Bắc triều trước sau vùng đất này thuộc về các quận Hà Dương, Tây Hà. Trong thời kỳ này dân tộc Bạch hình thành, và họ đã kiến trúc nhiều tòa thành ấp tại khu vực ven hồ Nhĩ Hải.

Đầu thời kỳ nhà Đường, khu vực ven hồ Nhĩ Hải có 6 bộ lạc, gọi là lục chiếu. Thời Đường Cao Tông, ngoại trừ chiếu Mông Xá ra thì 5 chiếu còn lại đều bị Thổ Phồn chinh phục. Năm Khai Nguyên thứ 26 (737) thời Đường Huyền Tông, thủ lĩnh chiếu Mông Xá là Mông Bì La Các (Các tài liệu sử học Việt Nam gọi là Bì La Cáp) chiếm lại đất đai của 5 chiếu, khởi lập nhà nước Nam Chiếu, sau đó dời kinh đô từ Mông Xá (nay là Nguy Sơn) tới thành Thái Hòa (nay là thôn Thái Hòa), dùng vùng đất này làm cơ sở để tiếp tục chinh phục các vùng đất xung quanh, khống chế phần lớn vùng đất ngày nay là tỉnh Vân Nam[1].

Từ năm Thiên Bảo thứ 9 (750) cho tới năm Thiên Bảo thứ 13 (754), trước sau tổng cộng ba lần nhà Đường mệnh cho Tiên Vu Trọng Thông, Lý Huy, Vương Trí Tiến, Giả Quyền chỉ huy đại quân tấn công Nam Chiếu, vua Nam Chiếu là Mông Các La Phượng liên minh cùng Thổ Phồn, đánh bại quân Đường cả ba lần.

Năm Đại Lịch thứ 14 (779) thời Đường Đại Tông, cháu gọi Bì La Các bằng cụ là Mông Dị Mâu Tầm thiên đô tới thành Dương Tư Ma[2], ngày nay là thành cổ Đại Lý. Nhà nước Nam Chiếu định đô trong khu vực Đại Lý tổng cộng 163 năm. Năm Trinh Nguyên thứ 10 (794), Đường Đức Tông sai tiết độ sứ tới Nam Chiếu, cùng vua Nam Chiếu Mông Dị Mâu Tầm hội họp tại Thương Sơn, khôi phục hòa bình giữa hai nước[2].

Năm Thiên Phục thứ 2 (902) thời Đường Chiêu Tông, quyền thần Nam Chiếu là Trịnh Mãi Tự đoạt quyền, lập ra nhà nước Đại Trường Hòa[2]. Năm 928, Dương Càn Trinh lập Triệu Thiện Chính làm vua nước Đại Thiên Hưng[2], nhưng sau đó đã tự lập làm vua của nước Đại Nghĩa Ninh[2]. Năm Thiên Phúc thứ 2 (937) thời Hậu Tấn Cao Tổ, Đoàn Tư Bình tại thành Dương Tư Ma định đô lập nước, đặt quốc hiệu là Đại Lý. Họ Đoàn tự xưng là hậu duệ của nhà Hán cho nên sau khi lập nước đã cho thi hành văn hóa Hán, nhiều lần sai sứ sang thông thương với nhà Tống.

Vương quốc Đại Lý kéo dài tổng cộng 316 năm, tới năm 1253 thì bị quân đội Mông Cổ do Hốt Tất Liệt chỉ huy tiêu diệt. Năm 1274, để tiện bề cai trị, tại thành Áp Xích (còn gọi là lộ Trung Khánh, nay là Côn Minh) nhà Nguyên đã cho thành lập Vân Nam hành tỉnh, đồng thời thiết lập lộ Đại Lý và huyện Thái Hòa, đều thuộc Vân Nam hành tỉnh. Từ đó trở đi trung tâm hành chính của Vân Nam chuyển hẳn sang Côn Minh.

Năm Hồng Vũ thứ 14 (1381), quân Minh tấn công và chiếm Đại Lý. Lộ Đại Lý đổi thành phủ Đại Lý, nhưng vẫn duy trì huyện Thái Hòa. Năm sau Minh Thái Tổ cho xây đắp phủ thành mới, tức là thành cổ Đại Lý còn lại tới ngày nay. Năm 1659, quân Thanh tiến vào Vân Nam. Nhà Thanh vẫn duy trì thể chế tương tự như thời Minh. Năm Hàm Phong thứ 6 (1856) người Hồi tại Vân Nam nổi dậy, lập ra chính quyền của người Hồi dưới sự chỉ huy của Đỗ Văn Tú, khống chế phần lớn vùng đất thuộc tỉnh Vân Nam.

Thời Trung Hoa dân quốc, phủ Đại Lý bị bãi bỏ, còn huyện Thái Hòa đổi tên thành huyện Đại Lý. Năm 1950, lập ra thị xã Hạ Quan. Năm 1983, thị xã Hạ Quan cùng huyện Đại Lý nhập lại thành huyện cấp thị Đại Lý. Hiện tại, thủ phủ của Châu tự trị người Bạch Đại Lý nằm tại huyện cấp thị Đại Lý. Khoảng hai phần ba dân số của huyện cấp thị này là người Bạch.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Thương Sơn Nhĩ Hải

Địa hình Đại Lý cao ở phía tây, thấp ở phía đông. Nhiệt độ trung bình năm trong toàn bộ huyện cấp thị này là 15 °C, lượng giáng thủy trung bình đạt 1.056 mm. Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là lúa gạo, tiểu mạch, ngô, lợn, trâu, , gia cầm. Các loại đặc sản có hoa sơn trà (Camellia japonica) Vân Nam, hoa đỗ quyên (Rhododendron) Thương Sơn, tuyết lê (Pyrus nivalis) Đại Lý, đà trà Hạ Quan. Công nghiệp chủ yếu tập trung tại phía nam hồ Nhĩ Hải, trong khu vực phụ cận trấn Hạ Quan, bao gồm các ngành sản xuất thuốc lá, chè, công nghiệp thực phẩmdệt may. Đá Đại Lý rất nổi tiếng trong xây dựng và kiến trúc tại Trung Quốc.

Cùng thành cổ Đại Lý thì thôn Thái Hòa cũng từng là nơi đặt kinh thành của quốc gia cổ đại Nam Chiếu, hiện còn di chỉ thành Thái Hòa, quy mô khá lớn, được xếp là di sản cấp quốc gia. Phía tây bắc hồ Nhĩ Hải có trấn Hỉ Châu, là nơi sinh sống tập trung của người Bạch với sự đa dạng về phong tục tập quán. Phía bắc hồ Nhĩ Hải là trấn Thượng Quan, thời cổ đại là tiền đồn quân sự phòng thủ cho thành Đại Lý, khắp nơi có trồng hoa Triều Châu, còn gọi là hoa Thượng Quan. Bên cạnh đó, các danh lam thắng cảnh gần đó còn có núi Kê Túcnúi Nguy Bảo.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lịch sử Đại Lý (tiếng Trung)
  2. ^ a ă â b c 徐俊 (Từ Tuấn) (11/2000). 中国古代王朝和政权名号探源 (Trung Quốc cổ đại vương triều hòa chính quyền danh hào tham nguyên). Vũ Xương, Hồ Bắc: Nhà xuất bản Đại học Hoa Trung. tr. 192–200. ISBN 7-5622-2277-0.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)