Baba Yaga

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Minh họa Baba-Yaga bởi Ivan Bilibin (1911)

Baba Yaga hay Baba-Yaga (tiếng Nga: Баба-Яга / Mụ phù thủy đầm lầy) là một nhân vật trong văn học dân gian của các dân tộc Slav.

Baba Yaga là một sinh vật siêu nhiên (hoặc một trong bộ ba chị em cùng tên gọi) xuất hiện với vẻ bề ngoài là một bà già dị dạng hoặc hung dữ. Trong truyện cổ tích Nga, Baba Yaga bay trên không bằng chiếc cối, tay phải cầm chày, tay trái cầm chổi. Bà sống sâu trong rừng trong một túp lều có đôi chân gà mái. Baba Yaga có thể giúp đỡ hoặc cản trở những người bắt gặp hoặc tìm kiếm mình. Bà có thể đóng vai trò là mẹ và có mối liên hệ với động vật hoang dã trong rừng. Theo hình thái trong truyện dân gian của Vladimir Propp, vai trò của Baba Yaga rất đa dạng, từ nhân vật phản diện cho đến người giúp đỡ nhân vật chính.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Baba-Yaga được mô tả là một mụ phù thủy có khuôn mặt gớm ghiếc, hàm răng bằng sắt, cái mũi dài và dáng lưng còng. Nhân vật này ưa sống ở những nơi ẩm thấp như đầm lầy, rừng sâu, hay thậm chí là núi cao khuất bóng cây... Nơi ở của bà ta là một túp lều chân gà, còn phương tiện di chuyển là cái cối biết baycây chổi thần. Không ai biết Baba Yaga đã sống từ năm tháng nào và mỗi khi trả lời câu hỏi của người khác, mụ lại già thêm một tuổi.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Baba Yaga vẽ bởi Ivan Bilibin (1902)

Tên của Baba-Yaga gồm có hai thành tố, thành tố thứ nhất - "Baba" trong hầu hết ngôn ngữ Slav cổ điển đều có nghĩa là "bà già" hay "bà" (nội/ngoại); nó bắt nguồn từ những từ vựng mang tính chất miệt thị mà trẻ em hay dùng trong tiếng Slav hiện đại.[1] Còn thành tố thứ hai - "yaga" bắt nguồn từ các ngôn ngữ khác thuộc nhóm Slav: (j)ęga, "Jędza" (tiếng Ba Lan), có thể liên quan đến tiếng Lithuanian ingis ("kẻ lười chảy thây" hoặc "kẻ lười biếng"), tiếng Na Uy cổ ekki ("đau đớn"), và tiếng Anh cổ inca ("hỏi, nghi ngờ; tranh cãi").[2] Thuật ngữ liên quan đến thành tố thứ hai trong tên (yaga), xuất hiện trong nhiều ngôn ngữ Slav; jeza trong tiếng Serbo-Croatia là "rùng mình", "jeza" trong tiếng Slovenia là "giận dữ", "jězě" trong tiếng Séc cổ là "mụ phù thủy", "jezinka" trong tiếng Séc hiện đại là "nữ thần cây", "jędza" trong tiếng Ba Lan cũng là mụ phù thủy. Thuật ngữ xuất hiện trong nhà thờ cổ Slavo là "jęza/jędza" nghĩa là "bệnh". Trong các ngôn ngữ Ấn Âu khác, thành tố yaga có liên kết với từ engti trong tiếng Lithuania nghĩa là "lười nhác", "lề mề" và "neungti" nghĩa là "đau đớn", từ "inca" trong tiếng Anh cổ nghĩa là "lo lắng", "đau đớn".[3]

Serbia, mụ phù thủy được gọi là Gvozdenzuba (hàm răng sắt) hay šumska majka (người mẹ chốn rừng thẳm). Baba Yaga thường được so sánh với Mẹ Holda (Frau Holle) trong văn hóa dân gian Đức, một nhân vật có mối liên hệ bí ẩn với FriggSkadi.

Skadi.

Hình tượng trong văn hóa - nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nữ anh hùng Vasilisa bên ngoài căn nhà gỗ của Baba Yaga minh họa bởi Ivan Bilibin (1902)

Baba Yaga (Iaga baba) được nhắc đến lần đầu vào năm 1755 trong cuốn Rossiiskaia grammatika (ngữ pháp tiếng Nga) của Mikhail Lomonosov. Trong sách của Lomonosov, Baba Yaga được đề cập 2 lần bằng tiếng Slav cổ.

Lần thứ hai Baba Yaga xuất hiện trong danh sách thần thoại Slav và được phỏng đoán có trong thần thoại La Mã. Tuy vậy Baba Yaga đã xuất hiện lần ba mà không có sự tương đồng, sự chứng thực nhận thức về sự độc đáo của nhân vật ấy ngay cả trong lần chứng thực đầu tiên được biết đến này.[4]

Trong những câu chuyện kể có Baba Yaga xuất hiện, mụ hiện thân với nhiều đặc trưng: cái chổi, túp lều xoay trên đôi chân gà, chiếc cối. Baba Yaga làm xuất hiện tính ngữ "chân toàn xương" (Baba Iaga kostianaia noga), và khi ở trong nhà của mình, mụ thường ở bên bếp lò. Baba Yaga có cái mũi chúc xuống sàn nhà. Đặc biệt, một vài người kể chuyện còn cố ý nhấn mạnh về sự kinh tởm của cái mũi, bộ ngực, mông và chỗ kín của mụ.[5]

Trong câu chuyện nổi tiếng "Nàng Vasilisa xinh đẹp", cô con gái của vị thương nhân bị hai người em gái là con riêng của mẹ kế bắt phải đến chỗ Baba Yaga xin lửa. Cô đã gặp bạch hiệp sĩ ngay trước lúc bình minh, xích hiệp sĩ khi mặt trời lên và hắc hiệp sĩ lúc chạng vạng. Khi đến gần căn lều chân gà, Vasilisa thấy những cây đèn đầu lâu treo trên xương ống chân người phát sáng màu xanh ma quái. Cô bé sợ hãi và định bỏ chạy thì búp bê nhỏ động viên cô hãy dũng cảm tiến vào. Ngay khi cô bước qua cổng thì mụ phù thủy bay về trên chiếc cối. Ngày hôm sau, Baba Yaga bảo cô phải quét sân, dọn nhà, giặt quần áo của mụ và nấu ăn. Ngày tiếp theo, mụ trộn lẫn hạt ngô vàng với hạt ngô hỏng rồi bảo cô nhặt xong trước khi trời tối, và cũng đừng quên dọn nhà, nấu ăn. Ngày thứ ba, mụ đổ hạt kê tốt với hạt bị hỏng và cũng bảo cô hãy nhặt bỏ hạt hỏng đi. Đêm hôm đó, hài lòng với những gì cô bé đã làm được, mụ cho phép Vasilisa hỏi mình ba câu. Nhưng cô đã hỏi về danh tính của ba hiệp sĩ mình từng thấy và điều đó khiến mụ nổi giận. Bạch hiệp sĩ là Bình Minh (hoặc Ban Ngày), Xích hiệp sĩ là Mặt Trời và Hắc hiệp sĩ là Đêm Tối. Cả ba đều là thuộc hạ của Baba Yaga. Vasilisa sau đó chạy khỏi căn lều và lấy đi một ngọn đèn đầu lâu. Ngọn đèn này thiêu cháy ba mẹ con dì ghẻ. Cô đã chôn cây đèn xuống dưới gốc cây cạnh ngôi mộ của người mẹ quá cố vì sợ hãi quyền năng của nó.[6]

Một câu chuyện khác, Baba Yaga so tài với Zamorýshek, cặp vợ chồng nông dân nghèo đã bao năm không có con cái. Họ cầu xin Chúa và Ngài hiện ra dưới hình dạng một ông già lưng còng. Chúa bảo người chồng hãy đến từng ngôi nhà của làng bên cạnh và xin mỗi nhà hãy cho mình một quả trứng và tặng lại cho họ những con gà mái, sau đó người vợ phải ấp trứng suốt hai tuần. Người chồng xin được bốn mươi mốt quả trứng và quả thật đã nở ra bốn mươi mốt đứa con trai sau hai tuần. Bốn mươi đứa đặt chân xuống đất thì vụt lên cao lớn, chỉ có đứa con út thì có vẻ ốm yếu, nhưng rất thông minh. Những đứa con xin cha mẹ đặt tên cho chúng và người con út được gọi là Zamorýshek. Sau khi chế ngự được con thần mã của biển khơi và đàn con của nó, bốn mươi mốt anh em, theo lời gợi ý của Zamorýshek, đã tới chỗ Baba Yaga để xin bà "mai mối" cho họ. Baba Yaga hóa phép bốn mươi mốt con bướm trở thành các thiếu nữ xinh đẹp. Họ tổ chức một đám cưới tập thể rất vui vẻ. Nhưng con ngựa của Zamorýshek đã nhắc nhở anh rằng: "Hãy nghe tôi, chủ nhân quý mến: khi chàng ngủ chung với người vợ trẻ, hãy để cô ta mặc áo quần của chàng, còn chàng hãy mặc váy của cô ta, nếu không làm thế thì chàng sẽ bị giết." Zamorýshek liền bảo với các anh mình và họ đều làm theo lời chàng. Đêm đó mắt chàng mở thao láo để nghe ngóng mọi sự. Vào lúc nửa đêm, mụ phù thủy biến đàn chó sói thành người rồi hét to: "Ho, những nô bộc trung thành của ta! Hãy chặt đầu những tên ranh con xấc láo không mời mà đến chỗ ta!" Nghe thấy những lời này, Zamorýshek gọi các anh em dậy và bỏ trốn. Vì các cặp vợ chồng đều đổi áo quần, nên các cô dâu đều bị chặt đầu và treo lên cọc.

Sáng hôm sau, Baba Yaga nhìn thấy bốn mươi mốt cái đầu phụ nữ, liền nổi giận lôi đình. Mụ gọi ra tấm khiên lửa, chính là mặt trời hóa thành, và đuổi theo anh em Zamorýshek. Mụ vung tấm khiên đến đâu, lửa bùng lên dữ dội ở đó và đám cháy lan rộng theo gió bốn phương. Bốn mươi mốt chàng trai bị dồn đến bờ biển. Zamorýshek trước đó đã lấy trộm chiếc khăn tay của mụ phù thủy, bèn giũ mạnh nó, hóa phép ra cây cầu băng qua biển lớn. Chàng giũ khăn lần nữa, cây cầu biến mất và mụ phù thủy rơi xuống biển.[7]

Trong một câu chuyện Koschei Bất Tử, hoàng tử Ivan đã giải phóng cho phù thủy xương và hắn bắt cóc công chúa chiến binh Marya Moryévna. Công chúa đe dọa bẻ gãy xương và đập bể đầu hắn khiến tên phù thủy kinh sợ, nhốt cô vào một căn phòng kín. Hoàng tử Ivan được biết rằng, muốn đánh bại Koschei Bất Tử, chàng phải tìm ra một con chiến mã tốt hơn của hắn. Chàng phải vượt hai mươi bảy vùng đất, đến vương quốc thứ ba mươi, biên kia dòng sông lửa chính là căn lều chân gà của Baba Yaga và hỏi lời khuyên từ mụ. Công chúa Marya đã lấy chiếc khăn tay của Koschei cho chàng, thứ có thể xây một cây cầu vượt qua con sông tử thần ấy.

Phù thủy Baba Yaga hứa sẽ đáp ứng yêu cầu của hoàng tử, nhưng chàng phải chăn đàn ngựa của mụ. Con ngựa nào cũng có thể bay lên trời, lặn xuống biển và phi nước đại trên mọi địa hình. Nếu chỉ để mất một con, thì hoàng tử sẽ bị chặt đầu và cắm lên cây cọc thứ mười hai. Trước đó đã có mười một vị anh hùng đến đây hỏi xin lời khuyên của Baba Yaga, nhưng đều bị ăn thịt và bêu đầu lên cọc. Mụ phù thủy bí mật bảo bầy ngựa phải tìm mọi cách trốn thoát và chỉ được trở lại khi mụ đọc thần chú. Nhờ sự giúp đỡ của mòng biển, sư tử và bầy ong, chàng đã không để thất lạc bất kì con ngựa nào trước khi trời tối và được nhận lời chỉ bảo.

Ngay trong đêm, Hoàng tử Ivan đánh cắp một con ngựa nhỏ nhất, cũng là nhanh nhẹn nhất và vẫy tấm khăn tay ba lần sang phải để xây cầu vượt sông lửa. Sang bờ bên kia, chàng vẩy khăn sang trái hai lần để cây cầu không biến mất, nhưng trở nên rất dễ gãy. Sáng sớm hôm sau, Mụ phù thủy bay trên cối nhằm đuổi theo chàng, nhưng do cây cầu trông rất đẹp Baba Yaga nhảy xuống và thử đặt chân lên cầu. Nó lập tức đổ sập và mụ bị rơi xuống sông lửa.[8]

Trong một câu chuyện về bộ ba Baba Yagas, còn có những người chị em gái của mụ, chung nhau một cái tên. Ví dụ: trong phiên bản "The Maiden Tsar" tuyển chọn thế kỉ 19 bởi Aleksandr Afanasyev thì Ivan, con trai của một thương gia giàu có (khác với hoàng tử Ivan) nói chuyện với một trong ba mụ Baba Yaga:

Chàng đi lên phía trước... và cuối cùng đến một căn lều nhỏ; căn lều nằm trong một cánh đồng, xoay trên đôi chân gà. Chàng đi vào và thấy Baba Yaga với đôi chân xương xẩu. "Thật là xấu hổ", mụ nói, "chưa bao giờ có mùi vị Nga ở đây, mà tự nó dẫn xác đến. Mi tự tới đây hay bị buộc phải tới hả thằng nhóc?" Chàng đáp: "Thường thì do tôi tự tới, nhưng lần thứ 2 thì tôi bị bắt phải tới! Baba Yaga, bà có biết vương quốc thứ 10 ở đâu không?" "Không, ta không biết", mụ nói, và bảo chàng tới gặp người em gái thứ hai của mình, người đó có thể biết.[9]

Ivan bước vào trong căn lều nhỏ giống như căn lều lúc trước. Mụ Baba Yaga lại nói như vậy với chàng và hỏi lại câu hỏi như thế, còn Ivan hỏi lại với câu hỏi như thế. Mụ Baba Yaga thứ hai lại chỉ cho chàng đến chỗ người em gái thứ 3 và dặn nếu bà ta nổi giận với chàng và muốn ăn thịt chàng, hãy lấy ba sợi tóc từ bà ta và hỏi xin phép thổi chúng đi. Thổi cái thứ nhất nhẹ nhàng, cái thứ hai mạnh hơn và cái thứ ba mạnh nữa". Ivan cảm ơn mụ và tiếp tục lên đường.[10]

Sau khi vượt qua một chặng đường dài, Ivan cuối cùng đã tìm thấy căn lều chân gà của người trẻ nhất trong ba chị em giữa một cánh đồng. Baba Yaga này cũng nói về "mùi vị Nga" để rồi nghiến răng và xông vào ăn thịt Ivan. Nhưng Ivan đã xin mụ ba sợi tóc và mụ đồng ý. Chàng thổi cái thứ nhất nhẹ nhàng, cái thứ hai mạnh hơn và cái thứ ba thật mạnh nữa. Phép thuật này khiến mọi loài chim chóc bay đến vây quanh lều. Giữa bầy chim là Hỏa tước, nó bảo Ivan hãy mau nhảy lên lưng nó hoặc Baba Yaga sẽ ăn tươi nuốt sống chàng. Chàng làm theo tức thì nhưng mụ phù thủy tóm lấy đuôi chim. Những con chim khác lao vào tấn công mụ. Hỏa tước và Ivan bay lên thật cao, để lại Baba Yaga nắm chặt một nhúm lông phát sáng và bị đàn chim mổ tới tấp[11].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Max Vasmer, Etimologicheskii slovar' russkogo yazyka, Vol. I (Moscow: Progress, 1964), p. 99.
  2. ^ Max Vasmer, Etimologicheskii slovar' russkogo yazyka, Vol. IV (Moscow: Progress, 1973), p. 542.
  3. ^ Johns (2004:10).
  4. ^ Johns (2004), tr. 12.
  5. ^ Johns (1998), tr. 21.
  6. ^ https://en.wikisource.org/wiki/Russian_Folk-Tales/Vasil%C3%ADsa_the_Fair.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  7. ^ https://en.wikisource.org/wiki/Russian_Folk-Tales/B%C3%A1ba_Yag%C3%A1_and_Zamor%C3%BDshek.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  8. ^ https://en.wikisource.org/wiki/Russian_Folk-Tales/M%C3%A1rya_Mory%C3%A9vna.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  9. ^ Afanasev, Aleksandr (1973), Sđd, trang 231.
  10. ^ Afanasev, Aleksandr (1973), Sđd, trang 232.
  11. ^ https://en.wikipedia.org/wiki/Alexander_Afanasyev.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]