Biệt Nhi Ca

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Biệt Nhi Ca (Berke)
Khả hãn của Kim Trướng hãn quốc
Lam Trướng (phía tây)
Tại vị1257–1266
Tiền nhiệmUlaghchi
Kế nhiệmMengu-Timur
Thông tin chung
Hậu duệ
  • Tagtagai Khatun
  • Jijek Hatun
  • Kehar Khatun
DynastyBột Nhi Chỉ Cân
Thân phụTruật Xích
Sinh1221 (giả thiết)
Burkhan Khaldun, Đế quốc Mông Cổ
Mất1266 (55 tuổi)
Sông Kura,Biển Caspi, Kim Trướng hãn quốc (nay là Azerbaijan)
Tôn giáoHồi giáo (từ năm 1252)

Biệt Nhi Ca Hãn (1221 - 1266) (Berke hay Birkai; tiếng Mông Cổ: Бэрх хаан, tiếng Tatar: Бәркә хан) là một tướng lĩnh Mông Cổ, khả hãn Kim Trướng hãn quốc, và cháu nội của Thành Cát Tư Hãn[1]. Biệt Nhi Ca thiết lập quyền cai trị Lam TrướngBạch Trướng[2] từ năm 1257 đến 1266. Ông kế vị người anh trai Bạt Đô hãn ở Lam Trướng và góp công thành lập hãn quốc Hồi giáo đầu tiên của người Mông Cổ.[3] Ông cũng liên minh với người Mamluk Ai Cập chống lại Y Nhi hãn quốcBa Tư, do anh họ ông là Húc Liệt Ngột chỉ huy. Biệt Nhi Ca cũng hỗ trợ A Lý Bất Ca (Ariq Boke) trong cuộc nội chiến với Hốt Tất Liệt, nhưng không trực tiếp tham chiến vì đang phải chiến đấu với quân Y Nhi ở Kavkaz từ năm 1262.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Birkai là tên gọi được sử dụng bởi cả người Đột Quyết lẫn Mông Cổ. Trong tiếng Mông Cổ, Berkh có nghĩa là '' mạnh mẽ'', tương tự như Berk trong tiếng Turk cổ có nghĩa là "cứng rắn" hay ''uy lực''.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Biệt Nhi Ca là con trai thứ của Truật Xích (người con trai cả của Thành Cát Tư Hãn). Mặc dù không có thông tin chính thức về năm sinh của ông, nhưng theo một sứ giả Mamluk đến Kim Trướng hãn quốc năm 1264 (663 theo lịch Hồi giáo) đã ước chừng Biệt Nhi Ca khoảng 56 tuổi, nên rất có thể ông sinh khoảng 1208. Tuy nhiên, sử gia Ba Tư Juzjani lại cho rằng ông sinh khoảng thời gian Mông Cổ xâm lược Khwarezm (1219-1221)[4]. Nguồn tài liệu sau này của Jean Richard chỉ ra rằng Truật Xích kết hôn với mẹ ông là Sultan Khatun (con gái caliph Khwarezm Muhammad II) vào năm 1220, nên năm sinh của ông phải từ năm 1221 trở đi.[5] Biệt Nhi Ca lớn lên cùng các anh em trai dưới triều đại của bác ông là khả hãn Oa Khoát Đài.

Sự nghiệp quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1236, Biệt Nhi Ca cùng các anh trai là anh cả Oát Nhi Đáp (Orda), Sinkur, Shiban và danh tướng Tốc Bất Đài (Subutai) phục vụ dưới trướng người anh thứ hai Bạt Đô (Batu) khi ông này dẫn 150.000 quân (thực tế chỉ khoảng 25.000-35.000 người)[6][7] vượt Siberi thôn tính các bộ lạc BulgarKipchak ở lưu vực sông Volga. Tại đây, Tốc Bất Đài cử Biệt Nhi Ca đến phía bắc Kavkaz để đánh bại người Kipchak.

Năm 1237, ông dẫn quân tiêu diệt các công quốc Nga là Ryazan trong 3 ngày, mở đường cho người Mông Cổ tiến sâu vào đất Rus và hạ kinh đô Vladimir-Suzdal và tháng 2 năm sau. Suốt mùa đông năm 1238, Biệt Nhi Ca tiếp tục đánh bại người Kipchak và bắt một thủ lĩnh Miệt Nhi Khất (Merkit). Sau đó, ông tiếp tục thôn tính bình nguyên năm giữa hai con sông KumaTerek ở phía tây biển Caspi.

Biệt Nhi Ca tiếp tục theo Bạt Đô xâm lược châu Âu, đánh bại người Hungarytrận Mohi. Tuy nhiên, Oa Khoát Đài Hãn đột ngột băng hà tại Mông Cổ năm 1241, tất cả thân vương Mông Cổ gồm cả các anh em ông đều trở về kinh đô Karakorum để bầu khả hãn mới. Kết quả, con trai của Oa Khoát Đài là Quý Do lên ngôi.

Năm 1248, Quý Do Hãn băng hà đột ngột tại Tân Cương. Trước đó, khả hãn Mông Cổ yêu cầu Bạt Đô đến Mông Cổ để yết kiến (có thể là cớ để sát hại ông). Ngay lập tức, Bạt Đô cử Biệt Nhi Ca và Tukh-timur về Mông Cổ để tôn Mông Kha (Mongke)_con trai của người chú Đà Lôi làm khả hãn. Trong khoảng thời gian này, ông liên tục đến thăm các anh em họ dòng Sát Hợp Đài Và Oa Khoát Đài để tạo dựng vây cánh cho Mông Kha. Đến năm 1251, Biệt Nhi Ca cùng mẹ của Mông Kha là Toa Lỗ Hòa Thiếp Ni (Sorghaghtani) chủ trì hội nghị hốt lý lặc thai (kurultai) để tôn Mông Kha là khả hãn. Như vậy, chính Biệt Nhi Ca đã dàn dựng việc đổi ngôi này một cách chặt chẽ.

Cải sang Hồi giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1252, khi Biệt Nhi Ca đang ở Sarai-Juk (kinh đô của Kim Trướng hãn quốc), ông đã gặp một đoàn thương buôn từ Bukhara và họ đã thuyết ông theo đạo Hồi. Sau khi đã cải đạo, Biệt Nhi Ca tiếp tục thuyết phục người em trai Tukh-timur theo đạo.

Sau này, khi đã trở thành khả hãn Kim Trướng, ông đưa đạo Hồi trở thành quốc giáo tại đây, mặc dù Tengri giáo truyền thống Mông Cổ và Phật giáo Tây Tạng vẫn được tự do hoạt động. Năm 1258, khi người anh họ Húc Liệt Ngột hủy diệt Baghdad_ trung tâm thế giới Hồi giáo lúc bấy giờ, giết chết caliph Al-Musta'sim, đồng thời đe dọa các quốc gia Hồi giáo khác tại Syria và Ai Cập, Biệt Nhi Ca đã lên án gay gắt hành động này như một sự phỉ báng thánh Allah. Theo sử gia Hồi giáo Rashid-al-Din Hamadani ghi lại câu nói của Biệt Nhi Ca về sự kiện này.

Trước đó, Biệt Nhi Ca đã phàn nàn với Bạt Đô rằng: "Chúng ta đã giúp Mông Kha lên ngôi, nhưng hắn quên mất ai mới là bạn. Nay hắn muốn chiếm lấy lãnh thổ của những người đồng đạo Caliph, đúng là đáng khinh bỉ". Ngay từ lúc này, quan hệ giữa 2 dòng Truật Xích và Đà Lôi đã rạn nứt nghiêm trọng.

"Hắn (Húc Liệt Ngột) đã tàn phá tất cả các thành phố Hồi giáo và gây ra cái chết của caliph. Với sự giúp sức của Thượng đế, ta sẽ bắt chính hắn phải trả bằng dòng máu tội lỗi của hắn!"

Mở rộng Kim Trướng[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh địa Kim Trướng hãn quốc năm 1389. Kí hiệu ngôi sao là kinh đô Sarai.

Năm 1255, Bạt Đô băng hà và nhường ngôi lại cho các con là Sartaq và Ulaghchi dưới sự nhiếp chính của Biệt Nhi Ca, trước khi chính thức soán ngôi cháu 2 năm sau đó. Dưới sự cai trị của ông, Kim Trướng hãn quốch trở thành một hãn quốc bền vững và ổn định ở phía tây của đế quốc Mông Cổ. Năm 1259, ông tiêu diệt hoàn toàn phe đối lập của Danylo xứ Halych, phát động cuộc chiến tranh với đại công quốc Litva lần thứ hai, do Burundai chỉ huy. Từ năm 1260, Kim Trướng hãn quốc tiếp tục tiến xuống phía nam đến dãy Kavkaz, uy hiếp biên giới của Y Nhi hãn quốc do Húc Liệt Ngột cai trị. Năm 1265, quân Mông Cổ cướp phá Bulgaria và tỉnh Thrace của đế quốc Đông La Mã (Byzantine), buộc hoàng đế Michael VIII phải cống nạp vải quý cho Biệt Nhi Ca.

Xung đột Biệt Nhi Ca-Húc Liệt Ngột[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc này, tướng Khiếp Đích Bất Hoa (Kitbuqa) chỉ huy quân Y Nhi hãn quốc đánh bại các thành phố Thập Tự Chinh ở ven biển Palestine, nhưng thất bại trước quân Mamluk tại trận Ain Jalut. Kết quả, Khiếp Đích Bất Hoa tử trận, còn các vương quốc ở Palestine và Syria được phục hồi lãnh thổ. Lợi dụng tình hình này và lấy cớ trả thù cho Baghdad, Biệt Nhi Ca liên minh với người Mamluk và dẫn quân đến Kavkaz nhằm ý đồ xâm lược Y Nhi hãn quốc, khi khả hãn Húc Liệt Ngột của họ đang ở Mông Cổ để ủng hộ Hốt Tất Liệt lên ngôi sau khi Mông Kha Hãn băng hà.

Năm 1262, Húc Liệt Ngột trở về lãnh địa để ngăn chặn quân Kim Trướng xâm lược.

Nguyên nhân cho xung đột giữa các hãn quốc khởi phát từ mâu thuẫn tôn giáo lẫn tranh giành lãnh thổ. Trước đây, Mông Kha đã ban lãnh thổ của dòng Truật Xích thuộc Azerbaijan ngày nay cho Húc Liệt Ngột, khiến cho Biệt Nhi Ca không hài lòng. Tuy vậy, ông vẫn kiên nhẫn để chờ đến khi Mông Kha băng hà.

Ban đầu, Biệt Nhi Ca chưa có ý định giao tranh với Húc Liệt Ngột, ông nói: "Người Mông Cổ bị giết bằng lưỡi kiếm Mông Cổ. Nếu chúng ta đoàn kết lại, cả thế giới sẽ bị khuất phục". Tuy nhiên, sự thịnh vượng của Y Nhi ở miền bắc Iran và tình hình kinh tế khó khăn của Kim Trướng lúc đó (một phần do Húc Liệt Ngột yêu cầu Kim Trướng không bán nô lệ cho Mamluk.[8]) khiến Biệt Nhi Ca quyết định tuyên bố jihad, phát động chiến tranh xâm lược Iran.

Năm 1262, chiến tranh quy mô lớn được phát động. Năm 1263, quân của Húc Liệt Ngột cố gắng chiếm phía bắc Kavkaz nhưng bị con trai của Biệt Nhi Ca là Nogai đánh bại tại sông Terek, buộc quân Y Nhi rút lui. Cuộc chiến kết thúc khi Húc Liệt Ngột băng hà năm 1265.

Cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Húc Liệt Ngột qua đời, Biệt Nhi Ca tiếp tục vượt sông Kura để tấn công con trai Húc Liệt Ngột là Abaqa, nhưng ông lâm bệnh và qua đời năm 1266[9]. Một người cháu nội của anh em ông, Mengu-timur lên nối ngôi, tiếp tục chính sách liên minh với Mamluk và đối địch với Y Nhi hãn quốc. Một số sử gia[10] cho rằng cuộc chiến với Húc Liệt Ngột đã giúp các thánh địa Hồi giáo và Cơ Đốc giáoMeccaJerusalem tránh khỏi nguy cơ bị hủy diệt như Baghdad.

Dòng dõi[sửa | sửa mã nguồn]

Dã Tốc Cai
Thành Cát Tư Hãn
Hoelun
Truật Xích
Dei Seichen
Bột Nhi Thiếp
Tacchotan
Biệt Nhi Ca Hãn
Sultan Khatun

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ The Russian colloquial name Golden Horde for the Kipchak Khanate is believed to have been derived from the steppe color system for the cardinal directions: black  – north, blue  – east, red  – south, white  – west, and yellow (or gold)  – center, or from the golden field tent of the ruler.
  2. ^ In this terminology the names Blue and White follow the Persian usage, as do most contemporary historians; in Turkish usage they are reversed, causing some confusion in secondary literature.
  3. ^ De Weese, Devin (1994). Islamization and Native Religion in the Golden Horde. Penn State Press. tr. 3. ISBN 0-271-01073-8. 
  4. ^ Jackson, Peter (2017). The Mongols and the Islamic World: From Conquest to Conversion. Yale University Press. tr. 348. ISBN 978-0-300-12533-7. 
  5. ^ Broadbridge, Anne F. (2018). Women and the Making of the Mongol Empire. New York: Cambridge University Press. tr. 231–232. ISBN 978-1-108-42489-9. 
  6. ^ László, Markó (2000). Great Honours of the Hungarian State. Budapest: Magyar Könyvklub. ISBN 963-547-085-1. 
  7. ^ Liptai, Ervin (1985). Military history of Hungary (ấn bản 2). Budapest: Zrínyi katonai Kiadó. ISBN 963-326-337-9. 
  8. ^ Johan Elverskog (ngày 6 tháng 6 năm 2011). Buddhism and Islam on the Silk Road. University of Pennsylvania Press. tr. 186–. ISBN 0-8122-0531-6. 
  9. ^ E.J. Brill's first encyclopaedia of Islam, 1913-1936, Volume 7 By Martijn Theodoor Houtsma, p. 708.
  10. ^ Michael Pravdin, Lev Nicholaevich Gumilev, Reuven Amitai-Preiss, N. Kruchki

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Amitai-Preiss, Reuven. The Mamluk-Ilkhanid War, 1998
  • Chambers, James, The Devil's Horsemen: The Mongol Invasion of Europe
  • Hildinger, Erik, Warriors of the Steppe: A Military History of Central Asia, 500 B.C. to A.D. 1700
  • Morgan, David, The Mongols, ISBN 0-631-17563-6
  • Nicolle, David, The Mongol Warlords Brockhampton Press, 1998.
  • Reagan, Geoffry, The Guinness Book of Decisive Battles (Canopy Books, New York, 1992).
  • Saunders, J. J., The History of the Mongol Conquests (London, Routledge & Kegan Paul, 1971).
  • Soucek, Svatopluk. A History of Inner Asia, Cambridge, 2000.
  • Vásáry, István, "'History and Legend' in Berke Khan's Conversion to Islam", in Aspects of Altaic Civilization, vol. III, ed. D. Sinor, Bloomington (IN), 1990, 230-252 (reprinted in: Idem, Turks, Tatars and Russians in the 13th-16th Centuries (Farnham, Alershot, 2007) (Variorum Collected Studies Series: CS884), XVII.)
Biệt Nhi Ca
Bột Nhi Chỉ Cân (1206–1634)
Mất: , 1266
Hiệu
Tiền vị
Ulaghchi
Khả hãn của Kim Trướng hãn quốc
1257–1266
Kế vị
Mengu-Timur

Bản mẫu:Mongol Empire