CNBLUE

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ C.N. Blue)
Bước tới: menu, tìm kiếm
CNBLUE
CNBLUE at Korea Sale Festa.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại
Năm hoạt động 2009-nay
Hãng đĩa FNC Entertainment
CJ E&M Music and Live (Hàn Quốc)
Warner Music Group (Đài Loan, Nhật Bản)
Universal Philippines (Philippines)
Universal D (Nhật Bản)
Website Trang chủ
Thành viên hiện tại
Lee Jong-hyun
Jung Yong Hwa
Lee Jung Shin
Kang Min Hyuk
Cựu thành viên
Kwon Kwang Jin

CNBLUE (tiếng Hàn: 씨엔블루, tiếng Nhật: シーエヌブルー), (viết tắt của Code Name Blue), là một nhóm nhạc Indie Rock đến từ Hàn Quốc, ra mắt vào ngày 19 tháng 8 năm 2009 tại Nhật Bản với Mini-Album đầu tiên, Now or Never. CNBLUE luôn được coi là "F.T Island thứ hai" do cùng chung công ty quản lí với nhóm nhạc F.T Island thuộc công ty FNC Music. Tuy nhiên sự khác biệt về phong cách và âm nhạc đã khẳng định cái tên CNBLUE. CNBLUE phát hành bốn Teaster Video cho Mini-Album đầu tiên của họ tại Hàn Quốc, "Bluetory". Mỗi thành viên trong nhóm xuất hiện lần lượt trong Teaser Video của mình vào các ngày 6, 8, 11 và 13 tháng 1 năm 2010 theo thứ tự: Lee Jong-hyun, Kang Min-hyuk, Lee Jung-shin và cuối cùng là Jung Yong-hwa. Vào ngày 12 tháng 1 năm 2010, Music Video của ca khúc chủ đề Album mang tên I'm A Loner (tiếng Hàn: 외톨이야) đã được phát hành.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

2009: Ra mắt tại Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khoảng tháng 6 năm 2009, CNBLUE bắt đầu thực hiện các buổi diễn trên đường phố và biểu diễn tại các câu lạc bộ tại Nhật Bản.[1] Họ xuất hiện chính thức với tư cách là một nhóm nhạc Indie Rock tại Nhật Bản với tất cả những ca khúc tiếng Anh từ Mini-Album đầu tiên mang tên "Now or Never. Mini-Album được phát hành vào ngày 19 tháng 8 năm 2009. Cuối tháng 9, tay bass Kwon Jin Kwang rời khỏi nhóm và được thay thế bằng tay bass hiện tại Lee Jung Shin. Vào ngày 25 tháng 11 năm 2009, CNBLUE phát hành Mini-Album thứ hai tại Nhật Bản mang tên "Voice. Ca khúc chủ đề của Album được thu âm bằng tiếng Nhật trong khi các ca khúc còn lại hoàn toàn bằng tiếng Anh.

2010: Ra mắt và sự nghiệp âm nhạc tại Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Một thông tin đã được tiết lộ vào tháng 1 rằng, CNBLUE sẽ ra mắt chính thức tại Hàn Quốc với Mini-Album đầu tiên mang tên "Bluetory, sẽ được phát hành vào ngày 14 tháng 1 năm 2010. Sau đó, một nguồn tin nữa cũng đã cho biết Teaser Video của Album sẽ được phát hành vào những ngày khác nhau. Vào ngày 7 tháng 1 (Theo giờ Hàn Quốc), một đoạn Teaser Video đã được phát hành trên trang Web chính thức của nhóm, bắt đầu với Lee Jong Hyun. Teaster Video của người chơi trống Kang Minhyuk cũng được phát hành vào ngày 8 tháng 1. Ngày 11 và ngày 13 tháng 1, Teaser Video của Jungshin và Yonghwa cũng lần lượt lên sóng.

Một ngày trước khi ra mắt chính thức, CNBLUE đã tổ chức Showcase đầu tiên của nhóm tại Hàn Quốc, với sự ủng hộ nhiệt tình của một đội ngũ fan hâm mộ rất lớn. Vào ngày 14 tháng 1, nhóm phát hành Mini-Album đầu tiên tại Hàn Quốc và ngay lập tức, Album này đã giành được vị trí #1 trên bảng xếp hạng Mnet Real Time và vị trí #2 trên bảng xếp hạng Hanteo. CNBLUE là nhóm nhạc mới duy nhất làm được điều đó vào năm 2010, đánh bại hai nhóm nhạc mới ZE:AF. Cuz. CNBLUE biểu diễn lần đầu tiên tại chương trình Music Bank của đài KBS vào ngày 15 tháng 1. Nhóm đã giành vị trí #1 trên tất cả các bảng xếp hạng doanh số tiêu thụ Album và bảng xếp hạng âm nhạc trong 5 ngày ra mắt đầu tiên.

Trong chương trình Music Bank vào ngày 29 tháng 1, C.N.Blue đã giành vị trí #1 trên bảng xếp hạng K-Chart với tổng số điểm là 11.956.[2] Sau đó, nhóm cũng giành giải thưởng Mutizen đầu tiên trên chương trình Inkigayo của đài SBS vào ngày 31 tháng 1.[3]

Trong tháng 3, ban nhạc chuẩn bị cho album "Thank U" của họ tại Nhật Bản. Nó được phát hành vào ngày 20 tháng 3 năm 2010 với 2 bài hát mới.

Vào tháng 4, tên gọi chính thức của câu lạc bộ fan hâm mộ của CNBLUE đã được đặt là BOICE. BOICE là sự kết hợp giữa Blue và Voice.

Đầu tháng 5, FNC Music thông báo rằng CNBLUE sẽ nhanh chóng trở lại sân khấu âm nhạc với Mini - Album thứ hai của họ vào ngày 19 tháng 5 năm 2010. Mini - Album mang tên Bluelove và có một ca khúc do Yonghwa sáng tác, ca khúc "Love light" (tiếng Hàn: 사랑 빛). Một thời gian sau, CNBLUE đã phát hành Teaser Video cho ca khúc chủ đề của Mini - Album mang tên "LOVE". CNBLUE đã có sân khấu trở lại rất đặc biệt tại chương trình M! Countdown vào ngày 20 tháng 5.[4][5] Ca khúc chủ đề của Album, "LOVE", đã nhanh chóng dành vị trí đứng đầu trên nhiều bảng xếp hạng âm nhạc khác nhau.

Sau thành công ở Hàn Quốc, họ đã quay lại Nhật Bản và phát hành đĩa đơn đầu tiên "The Way" vào ngày 23 tháng 6. Lần đầu tiên họ đứng thứ 26 trên bảng xếp hạng Orion của Nhật. Bài hát "I don't know why" chiếm vị trí thứ 8 trên bảng xếp hạng Orion hàng ngày vào ngày 16 tháng 9. Trên bảng xếp hạng hàng tuần họ vươn tới vị trí 15. Trên bảng xếp hạng Japanese indie, họ đã đứng đầu.[6]

Lee Jong Hyun và Kang Min Hyuk thành viên của ban nhạc đã đóng vai chính trong phim "Acoustic" họ đã phát hành bài hát "High Fly" vào ngày 7 tháng 10.

2012: thành công rực rỡ của CNBLUE[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với CNBLUE, 2012 là một năm thành công. Ngay từ khi bước chân vào giới âm nhạc, 4 chàng trai đã đặt mục tiêu chinh phục thế giới bằng tài năng và âm nhạc độc đáo của mình. Kết thúc một năm 2012 hoạt động không mệt mỏi, CNBLUE đã có thể đường hoàng bước chân vào hàng ngũ những ngôi sao quốc tế, trở thành một trong số ít các nghệ sĩ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên nhiều "mặt trận" và tiếp tục phấn đấu để gặt hái những thành công mới.

Ngày 31/1 năm nay, CNBLUE xuất hiện trên MTV Unplugged. Đây là chương trình ca nhạc giúp nghệ sĩ gần gũi với fan hơn qua những sân khấu live thân mật và CNBLUE vinh dự trở thành nghệ sĩ Hàn đầu tiên được giới thiệu trong chương trình. Với một nhóm chỉ mới lên sàn 3 năm, đó hoàn toàn không phải là một thành tích nhỏ.

Đến tháng 2, Where You Are ra lò, như một cách thể hiện sự mạnh mẽ và cá tính của các chàng trai. Single mang hơi hướng Rock phù hợp với tâm trạng của "tuổi trưởng thành" mà CNBLUE muốn bày tỏ với fan. Hai ca khúc Where You Are và Feeling do Jung Yong Hwa sáng tác, còn Get Away là tác phẩm của Lee Jong Hyun. Chỉ trong tuần lễ đầu tiên, single đã bán được hơn 60.000 bản, đoạt No.1 Oricon Weekly Singles Chart.[7] Đây lại là một thành công đáng ghi nhận của nhóm nhạc còn non trẻ nhưng đã có thể thiết lập một kỷ lục mới.

Tháng 3, CNBLUE lần đầu đặt chân đến Mỹ[8] và bắt tay với đồng nghiệp F.T. Island để cùng xâm nhập vào giới âm nhạc phương Tây qua concert Stand Up tại Los Angeles. Là sân khấu Mỹ đầu tiên của cả 2 nhóm, Stand Up đánh dấu bước tiến mang tầm quốc tế cũng như góp phần tăng cường mối liên kết giữa CNBLUE với cộng đồng fan ở xứ cờ hoa.

Ngày 5/5, CNBLUE tổ chức buổi họp mặt fan Hàn đầu tiên, The Story of You and I tại Đại học Yeonsei thu hút hàng trăm fan tham dự. Qua buổi họp mặt chân thành này, các chàng trai bày tỏ tình yêu và lòng biết ơn đối với những khán giả đã nhiệt tình ủng hộ CNBLUE, kèm theo một lời hứa: "Chúng tôi sẽ tiếp tục đi cùng nhau trong 50, 60 năm tới".

2012, cả Lee Jong-hyun và Lee Jung Shin đều đã chính thức bước chân vào nghiệp diễn viên với vai diễn đầu tay trong Phẩm chất quý ông[9] và My Daughter Seo Yeong. Còn Jung Yong Hwa cũng đã bắt đầu thử sức trong lĩnh vực sản xuất nhạc, bên cạnh việc sáng tác riêng cho CNBLUE. Single phát hành ngày 7/6 của đàn em Juniel, Fool có sự đóng góp rất lớn của Jung Yong Hwa với vai trò song ca và sản xuất. Ca khúc này cũng xuất hiện trong mini album đầu tiên của Juniel - My First June, góp phần đưa tên tuổi cô đến gần hơn với khán giả Hàn.

Ngày 29/8, CNBLUE phát hành album dài bằng tiếng Nhật, Code Name Blue nhanh chóng leo lên vị trí đầu bảng Oricon trong 2 tuần liên tiếp. Với 11 trong số 13 ca khúc được sáng tác bởi tay guitar Lee Jong Hyun và giọng ca chính Jung Yong Hwa, thành công của Code Name Blue một lần nữa khẳng định CNBLUE là một ban nhạc có khả năng tự viết hit cho riêng mình.

Ngày 21/9, CNBLUE có thêm một concert quốc tế nữa, lần này là ở xứ sở sương mù. Concert solo đầu tiên của nhóm tại đất Anh với tên gọi CNBLUE, Live in London đã thu hút hơn 5.000 fan châu Âu tham dự. Giống như Stand Up, sự kiện này cũng là minh chứng cho một bước tiến thành công nữa của CNBLUE trên con đường vươn tới vị trí ngôi sao thế giới mà các chàng trai vẫn hằng mơ.

CNBLUE cùng với những nhóm nhạc hàng đầu Kpop đến Nam Mỹ để góp mặt trong tour Music Bank En Chile. Đây là lần đầu tiên CNBLUE đến Nam Mỹ và là lần thứ hai các chàng trai tham gia Music Bank World Tour. Concert đã diễn ra hôm 2/11 ở Quinta Vergara, Viña del Mar, Chile và thành công tốt đẹp.

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Ngày sinh[10] Vai trò[10]
Latinh hóa Hàn văn Hán tự
Jung Yong-hwa 정용화 鄭容和 22 tháng 6, 1989 (27 tuổi) Trưởng nhóm, Hát chính, Chơi piano, Chơi ghita, Rap, beatbox
Lee Jong-hyun 이종현 李宗泫 15 tháng 5, 1990 (26 tuổi) Chơi ghita, hát
Kang Min-hyuk 강민혁 姜敏赫 28 tháng 6, 1991 (25 tuổi) Chơi trống
Lee Jung-shin 이정신 李正信 15 tháng 9, 1991 (25 tuổi) Bass, rap, maknae
Cựu thành viên
Kwon Kwang-jin 권광진 權光珍 12 tháng 8, 1992 (24 tuổi) Bass

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu[sửa | sửa mã nguồn]

Album Thông tin Danh sách bài hát
Tiếng Hàn
First Step
  • Ngày phát hành: Ngày 21 tháng 3 năm 2011
  • Nhà xuất bản:Mnet Media
  • Ngôn ngữ: Tiếng Hàn
  1. 외톨이야 ("Intuition") [Ca khúc chủ đề]
  2. "Love Girl"
  3. "I don't known why:
  4. "Image"
  5. "Love In The Rain"
  6. "Lie"
  7. "One Time"
  8. "Just Please"
  9. "Wanna Be Like U"
  10. "Ready N Go"
  11. "Thank You"
  12. "One Of The Kind"
Tiếng Nhật
Thank You
  • Ngày phát hành: Ngày 20 tháng 3 năm 2010
  • Nhà xuất bản: Ai Entertainment Inc
  • Ngôn ngữ: Tiếng Anh, Tiếng Nhật
  1. Intro
  2. Let’s Go Crazy
  3. Love Revolution
  4. Wanna be Like U
  5. Never too late
  6. Now or Never
  7. voice
  8. Just Please
  9. Y, Why
  10. Teardrops in the Rain
  11. One of a Kind
  12. a.ri.ga.tou.

Mini-album[sửa | sửa mã nguồn]

Album Thông tin Danh sách bài hát
Bluetory
  • Ngày phát hành: Ngày 14 tháng 1 năm 2010
  • Nhà xuất bản: Mnet Media
  • Ngôn ngữ: Tiếng Hàn
  1. 외톨이야 ("I'm a Loner") [Ca khúc chủ đề]
  2. "Love Revolution
  3. Y, Why..."
  4. "Now or Never"
  5. 그럴 겁니다… 잊을 겁니다… ("I Will...Forget You...")
Bluelove
  • Ngày phát hành: Ngày 19 tháng 5 năm 2010
  • Nhà xuất bản: Mnet Media
  • Ngôn ngữ: Tiếng Hàn
  • Đĩa đơn: 사랑 빛 ("Love Light")
  1. LOVE [Ca khúc chủ đề]
  2. Sweet Holiday
  3. Black Flower
  4. Tattoo
  5. 사랑 빛 ("Love Light")
  6. Let's Go crazy

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn Thông tin Danh sách bài hát
"The Way"
  • Phát hành: 23.06.10
  • Nhà xuất bản: Ai Entertainment Inc
  • Ngôn ngữ: Tiếng Anh & tiếng Nhật
  1. "One Time" (sáng tác Yonghwa)
  2. "Ready N Go" (viết lời Yonghwa)
  3. "Eclipse" (sáng tácJonghyun)
  4. "The Way -One Time- (Inst.)"
"I Don't Know Why"
  • Phát hành: 16.09.2010
  • Nhà xuất bản: Ai Entertainment Inc
  • Ngôn ngữ: Tiếng Anh & tiếng Nhật
  1. "I don’t know why"
  2. "Lie"
  3. "I don’t know why (Instrumental)"
  4. "Lie (Instrumental)"
"Re-maintenance"
  • Phát hành: 09.01.11
  • Nhà xuất bản: Ai Entertainment Inc
  • Ngôn ngữ: Tiếng Anh & tiếng Nhật
  1. "Don't say goodbye"
  2. "Try again, Smile again"
  3. "Kimio"
  4. "Try again, Smile again (Instrumental)"

Các hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bắt đầu từ tháng 1 năm 2010, C.N.Blue sẽ xuất hiện trong chương trình "Making the Artist" (5 Ep) của GomTV
  • Chương trình truyền hình thực tế của C.N.Blue mang tên "CNBLUETORY" (5 Ep) sẽ được lên sóng vào ngày 10 tháng 2 năm 2010 trên kênh Mnet
  • Năm 2012, cnblue đã xây một trường học tại ở làng Niamadougou, Burkina Faso – châu Phi dự án này được trích từ chuyến lưu diễn thế giới Blue Moon. Trường sẽ cung cấp cho hơn 1000 học sinh về cơ sở vật chất trường học, bữa ăn hàng ngày và đảm bảo việc chăm sóc và các fan(boice) đã góp phần vào việc xây dựng trường học. Trong năm 2014, một trường CNBLUE thứ hai được xây dựng ở Philippines.

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

2010[sửa | sửa mã nguồn]

  • Listen to the CNBLUE - 1st Live Concert - AX Hall, Gwangjang-dong on 31 July
  • Listen to the CNBLUE Asia Tour

2011[sửa | sửa mã nguồn]

  • Japan Zepp Tour 2011 - "Re-maintenance"
  • Live Guerilla Concert "CNBLUE First Step" - 1st album released at Seoul Times Square

Japan 2nd Album Release Live "392" - Yokohama Arena

  • CNBLUE Winter Tour 2011 "Here, In My Head"
  • CNBLUE Asia Tour Concert "Blue Storm" (2011–2012)

2012[sửa | sửa mã nguồn]

  • CNBLUE Japan Fanclub Tour
  • F.T. Island & CNBLUE "Stand Up" by MLive in Los Angeles - Nokia Theater L.A. Live

CNBLUE in London - Indig02 @ The 02 Arena

  • CNBLUE Arena Tour 2012 – Come On - Japan: nine shows in six cities, with final show at Saitama Super Arena on 20 and 21 October[30]
  • CNBLUE Live: Blue Night in Seoul - SK Olympic Handball Gymnasium on 15 and 16 December

2013[sửa | sửa mã nguồn]

  • CNBLUE Zepp Tour "Lady" Tokyo
  • CNBLUE Arena Tour "One More Time" Osaka

2014[sửa | sửa mã nguồn]

  • CNBLUE "Can't stop" Tour
  • CNBLUE Arena Tour "Wave" Japan

2015[sửa | sửa mã nguồn]

  • CNBLUE Spring Tour "White" Japan
  • CNBLUE Arena Tour "Be a Supernova" Japan
  • CNBLUE Come Together Tour tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “씨엔블루 "좀더 열심히 활동할 것"” [CNBLUE "Further growth as a live band"]. Nate News (bằng tiếng Hàn). Ngày 21 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 
  2. ^ “CNBLUE wins first Music Bank K-Chart!”. allkpop. Ngày 31 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2010. 
  3. ^ “CNBLUE claims first Mutizen award on Inkigayo”. allkpop. Ngày 31 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2010. 
  4. ^ “CNBLUE spreads Love and wins No. 1 on M! Countdown”. allkpop. Ngày 10 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2010. 
  5. ^ “CNBLUE wins Mutizen with Love on Inkigayo”. allkpop. Ngày 20 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2010. 
  6. ^ “씨엔블루, 日서 새 싱글내고 라이브 투어” [CNBLUE, live tour for new single]. Yahoo! Korea (bằng tiếng Hàn). Yahoo!. Ngày 2 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. 
  7. ^ “【オリコン】CNBLUE、海外バンド41年ぶりのシングル首位” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Ngày 7 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2012. 
  8. ^ “FT Island & CNBLUE to be performing at LA LIVE's Nokia Theater in March”. Asia Pacific Arts. Ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  9. ^ “CN Blue’s Lee Jong Hyun Joins Cast of Jang Dong Gun’s Comeback Drama "A Gentleman’s Dignity". Soompi. Truy cập 28 tháng 9 năm 2015. 
  10. ^ a ă “CNBLUE Profile”. FNC Entertainment. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Giải thưởng và thành tích
Tiền vị:
Supreme Team
12th Mnet Asian Music Awards - Nghệ sĩ nam mới xuất sắc
2010
Kế vị
Huh Gak
Tiền vị:
Hot Potato
13th Mnet Asian Music Awards - Nhóm trình diễn xuất sắc
2011
Kế vị
Busker Busker
Tiền vị:
Busker Busker
16th Mnet Asian Music Awards - Nhóm trình diễn xuất sắc
2014
Kế vị
Incumbent