Chuột Hamster

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Chuột hams)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chuột hamster
Thời điểm hóa thạch: Miocene giữa - nay
Phodopus roborovskii sand.JPG
Tình trạng bảo tồn
Đã thuần chủng)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Rodentia
Phân bộ (subordo) Myomorpha
Liên họ (superfamilia) Muroidea
Họ (familia) Cricetidae
Phân họ (subfamilia) Cricetinae
Fischer de Waldheim, 1817
Các chi

Chuột hams, hamster, hay chuột đất vàng[1], trong từ điển dịch là chuột hang vì là loài thường hay đào hang, là một loài động vật gặm nhấm thuộc phân họ Cricetinae, bao gồm 25 loài thuộc 6 hoặc 7 chi khác nhau[2]. Được nuôi để làm các thí nghiệm khoa học và hiện nay còn để làm thú nuôi cho những người yêu thích vật nuôi nhỏ. Chuột hams được phát hiện tại một thành phố gần Siberia vào năm 1829.

Chuột hamster có khả năng đào hang để đuổi bắt côn trùng. Loài này đặc biệt ở chỗ có đôi túi má dài tới vai của nó, mục đích này để mang thức ăn về tổ, hang của chúng. Hamster có khả năng các hành vi khác nhau dựa vào tác động môi trường, di truyền và thật sự đã tương tác gần gũi với con người.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1829, báo cáo của nhà động vật học người Anh George Waterhous cho biết đã tìm được một con chuột hams cái già ở Syria, tên khoa học của nó là Cricetus auratus, còn gọi bằng tên thông thường là Golden Hamster (tạm dịch: chuột hams vàng). Trong năm 1930, các nhà động vật học và giáo sư của trường đại học Jerusalem Aharoni tìm được một con chuột hams mẹ và vài con con của nó ở sa mạc Syria. Và họ đã đem chúng về phòng thí nghiệm, phần lớn chết và trốn thoát. Số chuột hams còn lại được trao cho Trường Đại học Hebrew ở Jerusalem, tại đó họ đã gây thành công giống chuột hams tương tự như Golden Hamster. Tuy nhiên, chúng to hơn một chút so với giống chuột hams mà Waterhouse tìm được, và tên khoa học của chúng là Mesocricetus auratus, mặc dù có thể chắc chắn rằng tất cả chúng đều cùng một loài.

Chuột hams được chuyển đến tất cả các phòng thí nghiệm trên thế giới. Chúng tới Anh vào năm 1931,và 1938 thì nhu nhập vào Mỹ. Còn giống Golden Hamster được sinh từ những con thuần chủng tìm thấy ở Syria với số lượng rất ít, nó được bán ra từ những du khách đem từ sa mạc Syria về. Có hẳn một kho riêng biệt quan trọng lưu trữ hamster ở Mỹ vào năm 1971,nó sẽ không bao giờ được biết đến nếu không vì những con vật cưng của Bắc Mỹ đều có nguồn gốc từ chúng.

Giống Phodopus campbelli, Phodopus sungorus được giới thiệu ở Hội chợ thú nuôi Anh năm 1970. Chuột hams Roborovski từ Hà Lan đã du nhập vào Anh vào năm 1990.

Chuột hams được sử dụng trong các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học do chúng không mang trên mình mầm bệnh và sinh sôi rất nhanh (một lứa đẻ mới mỗi tháng), ngoài ra lại còn rất thân thiện và dễ dàng bồng bế. Chúng thường được dùng làm động vật thí nghiệm trong nghiên cứu về bệnh tim mạch vì hệ thống tim mạch của chúng giống hệ thống tim mạch của con người một cách đáng ngạc nhiên.

Chuột hamster còn được biết đến nhờ chúng đã xử lý 60 pounds ngũ cốc của các người nông dân trong các vụ thu hoạch xuân[3].

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Từ hamster là từ vay mượn của Tiếng Đức mà nó xuất phát từ Old High German hamsustro, nó được liên quan đến Nga choměstrǔ đó là cả một sự pha trộn của các gốc rễ của Nga khomiak "hamster" và một từ Baltic hoặc có xuất xứ Ba Tư[4].

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Túi má hamster được thí nghiệm trên hamster tại châu Âu

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Chuột hams không phải thuộc loài họ chuột thông thường (họ Chuột) như chuột cống, chuột nhắt, chuột đồng... mang nhiều mầm bệnh. Mà thực ra chúng thuộc họ Cricetidae, sinh sống ngoài tự nhiên, thường đào hang và có hai túi má để dự trữ thức ăn. Mắt chúng thuộc loại cận thị hoặc bị mù màu. Chúng thường sống ở hoang mạc, bán hoang mạc, hoặc nơi có khí hậu ôn đới, không phải loài chuột đồng thường phá hoại mùa màng. Chuột hams là loài động vật có vú (8 vú): 2 cái đầu ở 2 chân trước, 2 cái ở giữa, 2 cái dưới giữa cách 0,3mm, 2 cái ở đối diện nhau (chính giữa là hậu môn). Chúng có thể sống ở bãi đất khô cằn, sống được trong điều kiện nóng và tương đối ẩm và đào hang sâu hơn 3 mét. Là động vật 4 chân có tổng số ngón là 18 ngón (2 chân trước là 8, 2 chân sau 10 ngón) biết đồng loài bằng cách ngửi mùi để xác định vị trí thức ăn và có tính chia lãnh thổ cao, nhất là Syria Hamster. Chúng có thể nhạy cảm với các âm thanh to ồn và giao tiếp siêu âm tầm xa.

Chuột hams có kích thước nhỏ; bộ lông mềm bao phủ khắp cơ thể. Chúng có nhiều loại và nhiều màu lông khác nhau (đen, xám, vàng, trắng, trắng tuyền, vàng kim...). Chuột hams có đuôi nhưng cực kì ngắn (khoảng 1 cm) và có 1 lớp lông mỏng bao phủ dường như chẳng để làm gì cả.

Răng của chuột hams dài, có hai răng cửa to lớn (là bộ phận chủ yếu để ăn). Bởi thế chúng phải cần gặm nhấm các đồ vật bằng sắt, nhôm, gỗ để mài răng bớt đi. Nếu chúng không mài, răng cửa sẽ chạm nướu sẽ gây chảy máu, đụng xương hàm chúng có thể sẽ chết.

Chúng là thường hoạt động về đêm (hoạt động mạnh 7 giờ tối đến 2 giờ sáng hôm sau). Một ngày của chúng cần ngủ tối thiểu ít nhất 14 giờ/ngày. Chúng có thể bị căng thẳng, rối loạn thần kinh vào các thời điểm buổi sáng nếu làm phiền chúng khi đang ngủ.

Chuột hams có thể sống trung bình 2 năm nếu điều kiện sống đầy đủ.

Thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Hamster là một loài động vật ăn tạp. Chúng có thể ăn các loại hạt, rau quả, các loại bánh, vị không phải là chua, cay, đắng. Tại Trung Đông chúng là động vật săn theo đàn đánh bắt côn trùng. Chúng còn là chất gây men ruột sau và có thể ăn phân của nó để phục hồi dinh dưỡng, tuy nhiên không được hấp thu.

Hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Một đặc điểm hành vi của Hamster là tích trữ thực phẩm. Chúng mang theo thức ăn trong túi má rộng rãi của chúng vào hang lưu trữ dưới lòng đất của chúng. Khi đầy, má có thể làm cho đầu của nó tăng gấp đôi hoặc thậm chí gấp ba lần kích thước.

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Hamster cắn nhau khi tiếp xúc

Hầu hết tất cả hamster là đều sống đơn độc. Nếu đặt lại với nhau, cấp tính và mãn tính căng thẳng có thể xảy ra và nó có thể chiến đấu quyết liệt, đôi khi gây tử vong đối phương.

Đào hang[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả hamster là loài đào hang tuyệt vời, xây dựng hang hốc với một hoặc nhiều lối vào, với các phòng triển lãm kết nối với buồng cho làm tổ, bảo quản thực phẩm, và các hoạt động khác. Họ sử dụng chân trước và chân sau của họ, cũng như mõm và hàm răng của họ, cho đào. Trong tự nhiên, các bộ đệm hang nhiệt độ môi trường khắc nghiệt, cung cấp các điều kiện khí hậu tương đối ổn định, và bảo vệ chống lại kẻ thù. Syria Hamster đào hang của chúng thường ở độ sâu 0,7 m. Một cái hang bao gồm một ống dốc trèo lên trèo xuống (4 – 5 cm), làm tổ và một buồng găm và một chi nhánh mù kết thúc cho đi tiểu. Hamster trong phòng thí nghiệm đã không mất đi khả năng của nó để đào hang. Trong thực tế, chúng sẽ làm điều này một cách mạnh mẽ và kỹ năng nếu họ được cung cấp với các chất nền thích hợp.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Hamster có 2 nhóm ưa chuộng chính là Dwarf hamster (những loài thuộc nhóm này: sóc, Roborovski, Campell, Chinese Hamster...) được đến từ các đồng cỏ và vùng bán hoang mạc ở châu Á và loại Syrian hamster, nhóm này thường được gọi là Golden Hamster bởi con chuột hams được tìm thấy đầu tiên ở Syria là màu lông vàng. Với nhiều màu lông khác nhau gồm: trắng, đen, vàng, đỏ, cam, vàng đen, đen trắng,... thì chúng vẫn được xếp 2 nhóm trên.

Ở tuổi trưởng thành, kích thước mỗi con hamster Dwarf dài chừng khoảng tối đa 7 – 10 cm, riêng syrian hamster sở hữu thân hình gấp đôi Dwarf với dài 14 – 18 cm.

Syrian là một chuột hamster hoang dã, rất ghét sống cùng bầy hoặc đôi lứa, chỉ thích sống đơn độc là chủ yếu. Ngược lại Dwarf lại có thể sống đôi lứa hoặc trong 1 bầy nào đó. Do đó tính cách Syrian thường hung hăng và dễ cáu và ngược lại.

Tổng thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phân họ Cricetinae
   * chi allocricetulus
       * Loài A. curtatus - Mongolian Hamster.
       * Loài A. eversmanni - Kazakhstan hoặc Eversmann Hamster.
   * chi Cansumys
       * Loài C. canus - Gansu Hamster.
   * chi cricetulus
       * Loài C. alticola - Tibetan dwarf hoặc Ladak hamster.
       * Loài C. barabensis - bao gồm cả C. pseudogriseusC. obscurus - Chinese striped hamster, cũng gọi là Chinese Hamster; Striped dwarf hamster.
       * Loài C. griseus — Chinese (dwarf) hamster, còn được gọi là hamster.
       * Loài C. kamensis — Kam dwarf hamster hoặc Tibetan hamster.
       * Loài C. longicaudatus — Đuôi chuột ngắn dwarf hamster.
       * Loài C. migratorius — Dwarf hamster xám, Armenian hamster, migratory hamster xám; Hamster xám; migratory hamster.
       * Loài C. sokolovi - Sokolov's dwarf hamster.
   * chi Cricetus
       * Loài C. cricetus - European hamster, cũng được gọi là chuột hamster chung hoặc  lĩnh vực đen bụng Hamster.
   * Chi mesocricetus - Golden Hamster
       * Loài M. auratus - Golden hoặc Syrian hamster.
       * Loài M. brandti — Turkish hamster,, cũng gọi là Brandt's hamster; Hamster Azerbaijan.
       * Loài M. newtoni — Romanian hamster.
       * Loài M. raddei — Ciscaucasian hamster. 
   * Chi Phodopus — Dwarf hamsters 
       * Loài P. campbelli — Campbell's dwarf hamster.
       * Loài P. roborovskii — Roborovski hamster
       * Loài P. sungorus — Djungarian hamster hay Winter-white Russian Dwarf hamster.
   * chi Tscherskia
       * Loài T. Triton — Greater hamster đuôi dài, hay gọi là Korean hamster[5].

Mối quan hệ của các loài chuột đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Neumann et al (2006) đã tiến hành phát sinh loài phân tử phân tích của 12 trong số 17 loài trên sử dụng trình tự DNA từ ba gen: 12S rRNA, cytochrome b, và yếu tố von Willebrand. Họ đã phát hiện thêm các mối quan hệ:

Nhóm Phodopus[sửa | sửa mã nguồn]

Các chi Phodopus đã được tìm thấy để đại diện cho sự phân chia sớm nhất trong số Hamster. Phân tích của họ bao gồm cả hai loài. Kết quả của một nghiên cứu khác đề nghị cricetulus kamensis (và có lẽ là C. alticola liên quan) có thể thuộc về một trong hai nhóm Phodopus này hoặc giữ một vị trí cơ bản tương tự.

Nhóm Mesocricetus[sửa | sửa mã nguồn]

Các chi mesocricetus cũng tạo thành một nhánh. Phân tích của họ bao gồm tất cả bốn loài, với M. auratusM. raddei hình thành một subcladeM. brandtiM. newtoni khác.

Các chi còn lại[sửa | sửa mã nguồn]

Các chi còn lại của Hamster tạo thành một nhánh lớn thứ ba. Hai trong số ba loài được lấy mẫu trong cricetulus đại diện cho sự phân chia sớm nhất. Nhánh này chứa C. barabensis (và có lẽ là C. sokolovi liên quan) và C. longicaudatus.

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhánh còn lại chứa các thành viên của allocricetulus, Tscherskia, Cricetus, và C. migratorius. allocricetulusCricetus là chị đơn vị phân loại. Cricetulus migratorius là tương đối gần nhất tiếp theo của họ, và Tscherskia là nền[5].

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Nhảy đực và tiến hành[sửa | sửa mã nguồn]

Nhảy đực là 1 câu nói dân dã nhưng nói nôm na là con đực sẽ tiến hành ôm bụng con cái. Với cách này con mẹ có thể sinh sản tiếp. Hoặc sử dụng nước tiểu của con đực sẽ được dẫn truyền qua ống dẫn trứng sinh ra một hoăco nhưcng n non.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Hamster có thể sinh sản (sinh sản hữu tính) khi chúng đạt 2 tháng tuổi. Tuy nhiên chúng có thể đẻ sớm lúc 1 tháng tuổi nhưng chúng có thể sẽ chết nếu không đủ sức khỏe để nuôi dưỡng đám con của mình. Mỗi đứa con trong bụng mẹ có thai kỳ là trên 15 ngày, tối đa 1 tháng. Mỗi thai kỳ có 3 - 30 đứa con. Nhưng càng nhiều con con mẹ sẽ kiểm soát không xuể dẫn đến con mẹ bị kiệt sức và đám con sẽ dễ chết và sức khỏe không được đảm bảo. Thời gian đẻ 1 đứa con ra đời là 10 - 40 phút. Con non sẽ dễ bị cảm lạnh, yếu ớt, suy nhược cơ thể dẫn đến chết nếu không được bà mẹ này chăm sóc kĩ càng và cho bú thường xuyên. Thường thì con mẹ sẽ cho con bú trong 10 - 30 phút, sau đó lặp lại 1,5 - 3 giờ.

Trong cuộc đời của 2 chú hamster (đực và cái), con mẹ sẽ có thể lai giống hơn 8 lần.

Thời gian mang thai và sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Hamster là nhà nhân giống theo mùa và sẽ sản xuất một vài lứa một năm với vài đứa con trong mỗi lứa. Mùa sinh sản từ tháng Tư đến tháng MườiBắc bán cầu, với 1 đến 13 con sinh ra sau một thời gian mang thai từ 16 đến 23 ngày. Thời gian mang thai kéo dài 16 đến 18 ngày cho chuột hamster Syria, 18 - 21 ngày đối với Russian Hamsters, 21 - 23 ngày đối với Chinese Hamsters và 23 - 30 ngày cho chuột hamster Roborovski. Lượng trung bình cho chuột hamster Syria là khoảng bảy chuột con, nhưng có thể là nhiều như 24, đó là số lượng tối đa của những con có thể được chứa trong tử cung. Chuột lùn Campbell thường có 4-8 chuột con trong một lứa, nhưng có thể có đến 13. Djungarian Hamster có xu hướng có lượng con hơi nhỏ hơn, như Chinese và Roborovski Hamsters.

Hiện tượng trước khi đẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Hãy quan sát các đặc điểm bên ngoài cơ thể hoặc trong thời gian chúng đang sống:

  • Bụng hamster phình to bự ra một cách đáng kể hơn bình thường.
  • Vú thay đổi màu sắc
  • Hamster trong thời gian đẻ dễ bị stress hay cáu giận với hamster khác
  • Ăn uống, ngủ nhiều hơn bình thường
  • Hay kiếm những đồ lót mỏng để làm ổ và cựa quậy...
Hamster con đang bú sữa mẹ

Môi trường sống thực tại (nếu nuôi)[sửa | sửa mã nguồn]

Chung[sửa | sửa mã nguồn]

Khi đã nắm rõ những hiện tượng trước khi đẻ, cần bổ sung thức ăn, nước uống thường xuyên, đặc biệt là đồ lót mỏng để chúng làm ổ. Cách ly hamster mẹ ra khỏi tất cả hamster khác để không bị hamster khác quấy nhiễu hoặc ăn mất con. Trong thời gian nuôi con, tuyệt đối không được dọn chuồng bất cứ hình thức nào trong 2 tuần sau khi đẻ vì sẽ gây mùi cho hamster mẹ, lạc mùi sẽ ăn không chăm con và cao hơn ăn mất con. Khi thay thức ăn và bình nước cần đeo bao tay và hành động nhẹ nhàng, không gây tiếng ồn. Trong khoảng 2 tuần (15 ngày) không được bồng bế con mẹ và bầy con, có thể bồng bế sau thời gian này để có thể quen mùi của con người.

Mồ côi[sửa | sửa mã nguồn]

Khi bị mồ côi mẹ (sinh con rồi con mẹ qua đời hoặc không được mẹ chăm sóc), trong 0 → 12 ngày tỉ lệ chết rất cao. Nếu có khả năng, hãy đúc sữa cho con 2 - 3 giờ / lần. Hoặc có thể nhờ người mẹ thay thế bằng cách sau đây (đeo bao tay):

  • Tìm người mẹ cũng đang chăm con khác với độ tuổi tương đương.
  • Xóa tất cả mùi trên đứa con bằng cát tắm.
  • Sau đó dẫn con mẹ đi mất (càng lâu càng tốt), tiến hành dùng đồ dùng lót ổ của mẹ thay thế chà nhẹ lên người đứa con này. Hãy chắc chắn rằng trên đứa con không còn mùi của người mẹ cũ.
  • Bỏ vào bầy con của người mẹ thế.

Tỉ lệ thành công không cao (khoảng 60%). Con mẹ sẽ tấn công đứa con này nếu còn mùi cũ của nó. Ngược lại, đứa con trên 12 ngày tuổi có tỉ lệ sống sót cao hơn nhiều vì chúng đã bắt đầu tập ăn, tập uống và đã biết di chuyển.

Hình dạng, màu sắc đứa con sau khi đẻ[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1 ngày tuổi: Da hồng, không có lông, chưa mở mắt, chưa có móng, răng, không thể nghe tiếng ồn.
    Bầy hamster con sau 7 ngày tuổi
  • 3 ngày tuổi: Da hồng, không có lông, chưa mở mắt, bắt đầu mọc móng, răng, không thể nghe tiếng ồn.
  • 5 ngày tuổi: Bắt đầu mọc lông tùy theo lai giống, chưa mở mắt, không thể nghe tiếng ồn.
  • 9 ngày tuổi: Cơ thể đã phủ lông khoảng 60 - 100%, bắt đầu tập di chuyển, chưa mở mắt, không thể nghe tiếng ồn.
  • 12 ngày tuổi: Cơ thể đã phủ lông hoàn toàn, bắt đầu mở mắt, có thể nghe được tiếng ồn.
  • 14 ngày tuổi: Hamster con có thể ăn hạt cứng (nhỏ), đi tìm những giọt nước quý giá, mắt hí, đã nghe được tiếng ồn.
  • 18 ngày tuổi: Lông đã dài 0,3 - 0,5 mm, mắt mở hoàn toàn.
  • 22 ngày tuổi: Chúng có thể leo trèo một cách thoải mái và năng động nhưng sức còn yếu.
  • 24 - 1 tháng tuổi: Đã đến lúc cai sữa, chúng có thể sống tự lập.

Nuôi hamster[sửa | sửa mã nguồn]

Chuông nuôi ví dụ

Chuồng nuôi và Vệ sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Nếu nuôi hamster cần phải có chuồng để nuôi và các hàng rào che chắn (thanh thủy tinh, hàng rào sắt,...) để chúng không thể thoát ra ngoài. Mua các loại lót chuồng (mùn cưa mỏng và nó không là các loại cưa ở rèn; có thể thay thế mùn cưa bằng giấy vệ sinh xé rải rác;...). Thường xuyên thay lót 3 ngày/ lần để không cho vi khuẩn độc hại tích tụ và gây bệnh cho chúng.

Mùn cưa

Các giống loài đặc biệt như Winter White từ đồng cỏ của Siberia vào các tháng mùa đông thì chúng có thể ngả màu lông sang màu trắng do thiếu ánh sáng mặt trời gây nên. Cần đóng chuồng sắt cẩn thận vì chúng thường được mệnh danh là diễn viên xiếc dễ dàng trốn thoát ra ngoài. Nếu nuôi chúng cần nuôi trong hộp nhựa, bể kính (bể cá) có chiều cao hơn gấp 4 lần chiều dài của chúng là chính xác nhất.

Các loại hạt đậu là thức ăn lí tưởng, hợp lý cho hamster cung cấp gần đủ các chất dinh dưỡng

Thức ăn và uống[sửa | sửa mã nguồn]

Do răng của chúng thường dài ra nên chúng có thể phải cần ăn các thức ăn cứng để mài mòn răng của chúng. Thức ăn yêu thích của chúng thường là hạt hướng dương hay các loại thức ăn ngũ cốc, thức ăn trộn sẵn được bán trong cửa hàng. Các loại thức ăn trộn sẵn gồm: đậu đỏ, đậu đen, đậu phộng, hạt hướng dương, các loại bánh,...

Tuy vậy, cần hạn chế cho ăn các loại thức ăn có vị chua, đắngcay như socola, thức ăn có giấm (gỏi), ớt, tỏi hành. Không cho ăn hoa, các thức ăn từ các động vật khác chó, mèo cần kiêng kỵ vì chúng có thể bị ngộ độc thực phẩm.

Nước ngọt lạnh (không đá) thường là thức uống khoái khẩu của hamster. Không cho hamster uống các loại cà phê, trà, nước ép trái cây để tránh chuột hams bị đau và thủng dạ dày. Mua các bình nước để đựng nước và nên thử nó có chảy nước không và thường xuyên vệ sinh bình nước vì khi chuột hams uống nước lông và bụi bặm có thể đi vào ống nước.

Vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Thường cho chuột hamster có lên lịch dắt chơi định kỳ. Không làm xáo trộn vì hamster có thể thói quen lịch cũ của bạn. Nên sắp đặt các vật dụng đồ chơi như bánh xe quay (wheel), các đường ống, miếng trượt và các đồ chơi leo trèo không gây nguy hiểm cho chúng. Với ở bên ngoài tự nhiên, chuột hamster có thể hoạt động bằng đào hang, chạy gắng sức.

Bệnh hamster[sửa | sửa mã nguồn]

Hamster thường rất thấp tỉ lệ khả năng mắc bệnh. Nguyên nhận thường gặp là về bệnh ướt đuôi, bệnh tiêu chảy do ăn thức ăn không đúng và các vi khuẩn độc hại của môi trường xung quanh gây nên. Ngoài ra còn có thể mắc các bệnh mắt đục tinh thể, bệnh stress, bệnh cảm lạnh (do đặt ở vị trí lạnh lẽo, có nhiều luồng gió lạnh thổi vào, nhiệt độ quá thấp), bệnh táo bón, các loại bệnh bên trong cơ thể như tử cung, bàng quang, bao tử, tim.... Ngoài ra còn một nguyên nhân nữa là bị nhiễm bệnh từ các động vật khác do có thể chúng sống chung cùng một nhà. Cần cách ly khoảng cách xa và rửa tay sạch khi muốn ôm bế hamster. Nếu bệnh diễn biến trầm trọng và phức tạp, cần đưa ngay đến các bác sĩ thú y nếu nuôi chúng.

Các loại chuột hams[sửa | sửa mã nguồn]

Một winter white hamster màu pearl

Trên thị trường hiện bán các loại chuột hams chủ yếu để làm vật nuôi:

  • Phodopus sungorus: mắt đen, thuần chủng có các màu lông agouti (tiếng Việt gọi là màu sóc), sapphire (xám tro), pearl (trắng sọc đen). Bản tính thường hiền lành, dạn người. Có thể lai với Campbell's Dwarf Hamster.
  • Phodopus campbelli: mắt đỏ hoặc đen, có các màu lông albino (bạch tạng - lông trắng mắt đỏ), agouti, argente (màu trà sữa), opal (lông xanh xám, bụng trắng, mắt đen), đen, mottled (lông lốm đốm giống bò sữa), platinum (trắng, mắt đen)... thường dữ hơn Winter-white.
  • Phodopus roborovskii: kích thước nhỏ nhất, mắt đen, thường có màu lông nâu, mặt nâu hoặc trắng, đôi khi cũng có màu bạch kim (trắng toàn thân).
  • Golden hoặc Mesocricetus auratus: tiếng Việt thường gọi là Hamster bear, kích thước lớn nhất, có rất nhiều màu lông khác nhau.

Nhân vật truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Hamster tên là Rhino trong các bộ phim hoạt hình năm 2008 và spin-off 2009 tại phim ngắn Super Rhino.

Trong Tales of the Riverbank, thuật lại bởi Johnny Morris, nhân vật chính là Hammy Hamster.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]