Daniel Bryan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Daniel Bryan
Daniel Bryan in April 2014.jpg
Bryan với tư cách là WWE World Heavyweight Champion vào năm 2014
Tên khai sinh Bryan Lloyd Danielson
Sinh 22 tháng 5, 1981 (35 tuổi)[1]
Aberdeen, Washington, United States[1]
Nơi cư trú Phoenix, Arizona, United States[2]
Vợ hoặc chồng Brie Bella (kết hôn  2014–nay) «start: (2014-04-11)»"Hôn nhân: Brie Bella đến Daniel Bryan" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/Daniel_Bryan)
Gia đình John Laurinaitis (step-father-in-law)
Road Warrior Animal (step-uncle-in-law)
Nikki Bella (sister-in-law)
Sự nghiệp đấu vật chuyên nghiệp
Tên trên võ đài American Dragon[3]
Jason Song-Hard[3]
Daniel Bryan
Bryan Danielson
Chiều cao quảng cáo 5 ft 10 in (1,78 m)[4]
Cân nặng quảng cáo 210 lb (95 kg)[4]
Quảng cáo tại Aberdeen, Washington[3][4]
Huấn luyện bởi Masato Tanaka[3]
Rudy Boy Gonzalez[3]
Shawn Michaels[3][4][5]
Texas Wrestling Academy[1][5]
William Regal[5][6]
Ra mắt lần đầu December 1999[7]
Giải nghệ February 8, 2016[8]

Bryan Danielson Lloyd (sinh 22 tháng 5 năm 1981), được biết đến bởi tên võ của ông Daniel Bryan, là một đô vật chuyên nghiệp người Mỹ đã về hưu và hiện đang là người quản lý SmackDown. Ông được biết đến tốt nhất cho nhiệm kỳ của ông với WWE, người mà ông được ký hợp đồng. Trong WWE, Danielson tổ chức WWE World Heavyweight Championship ba lần và World Heavyweight Championship lần, ngoài việc là một lần United States Champion, một lần WWE Tag Team Champion và là một thành viên của Team Hell No (với Kane), và một lần Intercontinental Champion. Ông cũng là người chiến thắng 2011 SmackDown Money in the Bank, đã quảng cáo rầm rộ nhiều sự kiện lớn pay-per-view (bao gồm cả SummerSlam vào năm 2013 và WrestleMania XXX), và năm 2013 Superstar của người chiến thắng giải thưởng năm Slammy. Ông cũng là 26 Triple Crown Champion và 15 Grand Slam Champion trong lịch sử WWE.

Trước khi gia nhập WWE, Danielson đã thi đấu cho các công ty khác nhau sử dụng cả tên của ông thực sự và các tên gọi (tên hiệu sau) "American Dragon". Ông thi đấu cho Ring of Honor (ROH) 2002-2009, được công nhận như  một "Founding Father" của các chương trình khuyến mãi, nơi ông là một lần ROH World Champion, cũng là Pure Wrestling Champion cuối cùng (thống nhất các danh hiệu Pure với danh hiệu thế giới). Ông là người chiến thắng đầu tiên của giải đấu ROH's Survival of the Fittest hàng năm trong năm 2004. Cùng với CM PunkSeth Rollins, Danielson là một trong ba người đàn ông đã đoạt cả WWE World HeavyweightROH World Champion.

Danielson cũng đấu vật rộng rãi tại Nhật Bản, giành GHC Junior Heavyweight Championship trong Pro Wrestling Noah (NOAH)IWGP Junior Heavyweight Tag Team Championship (với Curry Man) ở New Japan Pro Wrestling (NJPW). Giữa WWE, ROH và Nhật Bản, ông đã giữ được tổng cộng 11 chức vô địch, trong đó có năm danh hiệu thế giới. Danielson cũng đã giành được hai giải vô địch thế giới PWG, FIP Heavyweight Championship, và wXw World Heavyweight Championship.

Vào ngày 08 Tháng 2 năm 2016, ông tuyên bố nghỉ hưu từ đấu vật chuyên nghiệp vì lý do y tế. Mặc dù WWE không rõ ràng, nhưng anh ta có thể đấu vật một lần nữa.

Các chức vô địch và danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

^ Bryan's first two reigns were when the title was still known as the WWE Championship.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên slam
  2. ^ “1065 The End gets a visit from Kane & Daniel Bryan”. YouTube. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2013. 
  3. ^ a ă â b c d Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên OWOW
  4. ^ a ă â b “Daniel Bryan bio”. WWE. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2012. 
  5. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên BalSun2
  6. ^ The LilsBoys (3 tháng 1 năm 2006). “Interview with William Regal”. WrestleView. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Gerweck
  8. ^ “Daniel Bryan announces retirement”. WWE. 8 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016.