HMS Illustrious (87)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Illustrious (AWM 302415).jpg
Tàu sân bay HMS Illustrious vào khoảng năm 1942
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Đặt hàng: 13 tháng 1 năm 1937
Hãng đóng tàu: Vickers-Armstrongs
Đặt lườn: 27 tháng 4 năm 1937
Hạ thủy: 5 tháng 4 năm 1939
Hoạt động: 25 tháng 5 năm 1940
Ngừng hoạt động: 1954
Xóa đăng bạ: 3 tháng 11 năm 1956
Biệt danh: Lusty
Số phận: Bị bán để tháo dỡ năm 1956
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Illustrious
Trọng tải choán nước: 23.207 tấn (tiêu chuẩn);
28.661 tấn (đầy tải)
Độ dài: 226,7 m (743 ft 9 in)
Sườn ngang: 28,9 m (95 ft)
Mớn nước: 8,5 m (28 ft)
Động cơ đẩy: 3 × Turbine hơi nước Parsons
6 × nồi hơi Admiralty
3 × trục
công suất 111.000 mã lực (82,8 MW)
Tốc độ: 56,5 km/h (30,5 knot)
Tầm xa: 20.400 km ở tốc độ 26 km/h
(11.000 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Tầm hoạt động: 4.854 tấn dầu đốt
Thủy thủ đoàn: 1.900 (thời chiến)
1.300 (thời bình)
Vũ trang: 1940: 16 × pháo QF 114 mm (4,5 inch) Mk.III (8×2)
48 × QF 2 pounder (40 mm) Mk.VIII (6×8)
1945: 16 × pháo QF 114 mm (4,5 inch) (8×2)
40 × pháo QF 2 pounder (5×8)
3 × pháo Bofors 40 mm (3×1)
38 × pháo Oerlikon 20 mm (19×2)
Bọc giáp: Sàn đáp: 76 mm (3 inch),
hông và vách ngăn: 112 mm (4,5 inch)
Máy bay mang theo: 1940:
15 × Fulmar,
18 × Swordfish
1945:
36 × Corsair,
21 × Avenger

HMS Illustrious (87) là một tàu sân bay của Hải quân Hoàng gia Anh trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ hai, là chiếc tàu chiến thứ tư của Anh Quốc mang cái tên này, và là chiếc dẫn đầu trong lớp tàu sân bay mang tên nó vốn bao gồm những chiếc Victorious, FormidableIndomitable. Nó từng hoạt động tại nhiều chiến trường khác nhau trong Thế Chiến II: Địa Trung Hải, Ấn Độ DươngThái Bình Dương. Sau khi chiến tranh kết thúc, nó phục vụ trong vai trò huấn luyện cho đến khi được cho ngừng hoạt động vào cuối năm 1954, và được bán để tháo dỡ vào ngày 3 tháng 11 năm 1956.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Illustrious được chế tạo tại xưởng đóng tàu của hãng Vickers-Armstrongs tại Barrow-in-Furness, được hạ thủy vào năm 1939, và được đưa ra hoạt động vào ngày 16 tháng 4 năm 1940. Chiếc tàu sân bay mới có trọng lượng rẽ nước 28.000 tấn và có khả năng mang đến 52 máy bay, một số lượng bị giảm đáng kể so với những tàu sân bay đương thời do nó được trang bị sàn đáp bọc thép. Nó được thủy thủ đoàn đặt cho tên lóng là Lusty.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Illustrious gia nhập hạm đội vào tháng 8 năm 1940. Nhiệm sở đầu tiên của nó là tại Địa Trung Hải, nơi nó được sử dụng trong vai trò hộ tống các đoàn tàu vận tải, tấn công tàu bè đối phương, và không kích các vị trí mục tiêu tại Bắc Phi. Vào ngày 31 tháng 8, nó được sử dụng trong cuộc tấn công các sân bay tại Maritza. Vào ngày 11 tháng 11 năm 1940, nó trở thành chiếc tàu sân bay đầu tiên trong lịch sử đã tung ra một cuộc tấn công lớn vào hạm đội đối phương, khi đã tấn công vào hạm đội Ý trú đóng tại cảng Taranto. Hai mươi mốt máy bay thuộc các phi đội 813, 815, 819 và 824 xuất phát từ Illustrious đã tấn công hạm đội Ý vào ban đêm. Người Ý hoàn toàn bị bất ngờ và không phòng bị, khiến một thiết giáp hạm bị đánh chìm và hai chiếc khác bị hư hại nặng.

Vào ngày 10 tháng 1 năm 1941, trong khi đang hộ tống một đoàn tàu vận tải ở về phía Đông đảo Sicilia, Illustrious bị tấn công bởi những máy bay ném bom bổ nhào Savoia-Marchetti SM.79Ju-87 "Stuka" của phe Trục, bị đánh trúng tám quả bom gây ra những hư hại đáng kể. Trong khi đang ở lại Malta để sửa chữa, nó lại bị trúng bom một lần nữa, gây ngập nước phòng động động cơ và bị nghiêng sang một bên. Công việc sửa chữa tại chỗ đã khắc phục được độ nghiêng của con tàu, nhưng nó được sơn ngụy trang sao cho xem như vẫn còn bị nghiêng một phần hầu có thể tránh được những đợt ném bom kế tiếp.[1] Vào ngày 23 tháng 1, nó khởi hành đi Alexandria, Ai Cập để được sửa chữa tạm thời, đến nơi vào giữa trưa ngày 25 tháng 1, và sau đó đi đến Virginia để được sửa chữa triệt để tại một nơi an toàn hơn là Xưởng hải quân Norfolk. Một trục chân vịt đã phải được cắt bỏ và vận tốc tối đa của con tàu bị giảm còn 42,6 km/h (23 knot).

Illustrious quay trở lại hoạt động vào tháng 5 năm 1942, và lập tức được bố trí đến Ấn Độ Dương; nơi nó cùng chiếc tàu chị em Indomitable tham gia Chiến dịch Ironclad, hỗ trợ cho cuộc đổ bộ của lực lượng Đồng Minh lên Diego Suarez thuộc đảo Madagascar vẫn còn do phe chính phủ Vichy kiểm soát. Vào năm 1943, chiếc tàu sân bay quay trở lại Địa Trung Hải, tham gia hoạt động cùng Lực lượng H đặt căn cứ tại lãnh thổ Gibraltar thuộc Anh. Nó đã giúp hỗ trợ cho cuộc đổ bộ của lực lượng Đồng Minh lên Sicilia vào tháng 9 năm 1943.

Vào năm 1944, Illustrious gia nhập Hạm đội Viễn Đông, nơi nó tham gia các cuộc không kích xuống các hòn đảo Indonesia: Sabang vào ngày 22 tháng 7 năm 1944Palembang vào các ngày 2429 tháng 1 năm 1945. Sau đó, chiếc tàu sân bay đi đến Fremantle, Australia, để nghỉ ngơi và tiếp liệu. Sau đó nó khởi hành cùng với phần còn lại của Hạm đội Thái Bình Dương vào ngày 4 tháng 3 đến đảo Manus, rồi lại từ đây lên đường vào ngày 19 tháng 3 đi đến Ulithi. Trong thành phần của Hạm đội Thái Bình Dương Anh Quốc, được đặt tên Lực lượng đặc nhiệm 57 bởi Đô đốc Nimitz, Illustrious hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên Okinawa cùng các tàu sân bay HMS Indomitable, HMS IndefatigableHMS Victorious. Trong khi hoạt động tại Thái Bình Dương, nó đã hai lần bị máy bay tấn công cảm tử kamikaze đâm trúng, nhưng nhờ cấu trúc vững chắc của kiểu sàn đáp bọc thép, đã có thể chịu đựng được cú va chạm mà không gây hư hại nặng và vẫn có thể tiếp tục thường trực ở vị trí chiến đấu. Tuy nhiên, một cú tấn công kamikaze khác suýt trúng vào ngày 6 tháng 4 đã gây ra những hư hỏng về cấu trúc thân tàu nghiêm trọng bên dưới mực nước; và sau các hoạt động tác chiến tại Đài Loan, nó được chiếc tàu sân bay chị em HMS Formidable thay phiên vào ngày 14 tháng 4 và khởi hành đi Philippines để khảo sát các hư hỏng. Những hư hại trong chiến đấu đã tỏ ra nghiêm trọng hơn dự đoán và chiếc tàu chiến bị buộc phải quay về Sydney và sau cùng là Rosyth để sửa chữa và tái trang bị. Công việc này chỉ hoàn tất vào tháng 6 năm 1946, khi chiến tranh đã kết thúc.[2]

Sau chiến tranh, Illustrious được giao các vai trò huấn luyện và thử nghiệm, với vận tốc tối đa bị giới hạn còn 41 km/h (22 knot) do những hư hại tích lũy trong chiến đấu. Nó được tái trang bị và hiện đại hóa từ tháng 1 đến tháng 8 năm 1948, được cho ngừng hoạt động vào cuối năm 1954, được bán vào ngày 3 tháng 1 năm 1956, và cuối cùng nó được tháo dỡ tại Faslane sau một cuộc đời phục vụ thành công. Những chiếc tàu chị em với nó FormidableIndomitable cũng bị tháo dỡ trong những năm 1950; và Victorious, chiếc cuối cùng trong lớp, bị tháo dỡ vào năm 1969.

Những hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Petty Officer Telegraph operator: George Russell Dickson, personal account
  2. ^ Mason, Geoffrey B (2003). “HMS Illustrious. Service Histories of Royal Navy Warships in World War 2. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2008. 
  • V.B. Blackman, ed., Jane's Fighting Ships 1950-51 (Sampson Low, Marston, & Company, London, 1951)
  • Roger Chesneau, Aircraft Carriers of the World, 1914 to the Present; An Illustrated Encyclopedia (Naval Institute Press, Annapolis, 1984)
  • Correlli Barnett, Engage the Enemy More Closely (W.W. Norton & Company, New York, 1991) ISBN 0-393-02918-2
  • Richard Collier, War in the Desert (Caxton Publishing Group, London, 2000) ISBN 0-7835-5721-3

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]