Kem đánh răng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kem đánh răng từ ống phết lên bàn chải răng

Kem đánh răng là một chất tẩy sạch răng dạng hỗn hợp nhão hay gel được sử dụng với bàn chải đánh răng như một phụ kiện để tẩy sạch, duy trì thẩm mỹ và sức khoẻ của răng. Kem đánh răng dùng để thúc đẩy vệ sinh răng miệng: được dùng làm chất mài mòn để loại bỏ mảng bám răngthức ăn khỏi răng, giúp ngăn ngừa chứng hôi miệng và cung cấp thành phần hoạt động (thường là fluoride) giúp ngăn ngừa sâu răngviêm nướu.[1] Muối và natri bicacbonat (soda nung) là những chất liệu có thể thay thế cho kem đánh răng thương mại. Kem đánh răng không nuốt được do hàm lượng chất floride, nhưng nói chung không gây hại gì nếu nuốt vào số lượng nhỏ. Tuy nhiên, người dùng nên tìm đến chăm sóc y tế sau khi nuốt một lượng lớn bất thường.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kem đánh răng sơ khai[sửa | sửa mã nguồn]

Người Hy Lạp cổ đại và tiếp sau đó La Mã cổ đại, đã cải tiến công thức chế biến kem đánh răng bằng cách thêm chất mài mòn như xương nghiền và vỏ sò.[3] Vào thế kỷ thứ 9, nhạc sĩ Iraq và nhà thiết kế thời trang Ziryab đã phát minh ra một loại kem đánh răng, mà ông đã phổ biến rộng khắp khắp vùng Hồi giáo Tây Ban Nha,[4] thành phần chính xác của kem đánh răng này không rõ ràng,[5] nhưng được báo cáo rằng cả hai "chức năng và hương vị dễ chịu".[4] Không biết liệu kem đánh răng sơ khai này sử dụng đơn nhất hay không, hay được cọ xát vào răng bằng những miếng giẻ rách, hoặc được sử dụng với bàn chải đánh răng sớm như cành cây sầu đâumiswak. Kem hay bột đánh răng được sử dụng rộng rãi vào thế kỷ 19.

Bột đánh răng[sửa | sửa mã nguồn]

Bột đánh răng dùng cho bàn chải đánh răng được sử dụng chung vào thế kỷ 19 ở Anh. Hầu hết là tự túc, với phấn, gạch nghiền, hoặc muối làm nguyên liệu. Một quyển bách khoa toàn thư 1866 đã khuyến cáo sử dụng than nghiền và cảnh báo rằng nhiều bột đánh răng đã được cấp bằng sáng chế được bán trên thị trường đã gây hại nhiều hơn tốt.

Arm & Hammer đã bán một loại bột đánh răng dựa trên soda nung ở Hoa Kỳ cho đến năm 2000, và Colgate hiện đang kinh doanh bột đánh răng ở Ấn Độ và các sản phẩm quốc gia khác.

Kem đánh răng[sửa | sửa mã nguồn]

gel đánh răng hiện đại

Một công thức kem đánh răng của Mỹ và Anh vào thế kỷ 18 gọi là bánh mì đốt. Một công thức khác khoảng thời gian này gọi là huyết rồng (một loại nhựa thông), quếphèn nhôm.[6]

Vào năm 1900, một loại bột làm bằng Hydro peroxidNatri bicacbonat được khuyến cáo sử dụng với bàn chải đánh răng. Các loại kem đánh răng hỗn hợp được sản xuất lần đầu tiên vào thế kỷ 19, nhưng không vượt qua sự phổ biến của bột đánh răng cho đến Thế chiến I. Năm 1880, bác sĩ Washington SheffieldNew London, CT sản xuất kem đánh răng chứa bên trong ống tuýp gấp khúc, Dr. Sheffield's Creme Dentifrice. Ông đã có ý tưởng sau khi con trai ông du lịch đến Paris và bắt gặp họa sĩ sử dụng nước sơn từ trong ống tuýp. Tại York vào năm 1896, kem nha khoa Colgate-Palmolive được đóng gói trong ống tuýp có thể đóng lại bắt chước Sheffield. Ống tuýp kem đánh răng gấp khúc ban đầu được làm bằng chì.[7][8]

Poster quảng cáo kem đánh răng Kolynos từ thập niên 1940

Cùng với Willoughby D. Miller, Newell Sill Jenkins đã phát triển kem đánh răng và đặt tên nó là Kolynos, loại kem đánh răng đầu tiên có chứa chất khử trùng.[9] Nguồn gốc của tên này từ tiếng Hy Lạp Kolyo nosos (κωλύω νόσος), có nghĩa "phòng bệnh". Nhiều nỗ lực sản xuất kem đánh răng của các dược sĩ ở châu Âu đã không đạt kinh tế. Sau khi trở về Mỹ, ông tiếp tục thử nghiệm với Harry Ward Foote (1875-1942), giáo sư hóa học tại phòng thí nghiệm hóa chất Sheffield của đại học Yale.[10] Sau 17 năm phát triển Kolynos và thử nghiệm lâm sàng, Jenkins đã nghỉ hưu, chuyển giao sản xuất và phân phối cho con trai Leonard A. Jenkins, người đã đem đến những ống tuýp đánh răng đầu tiên trên thị trường vào ngày 13 tháng 4 năm 1908. Trong một vài năm công ty mở rộng ở Bắc Mỹ, Mỹ Latin, Châu Âu và Viễn Đông. Một chi nhánh hoạt động được mở tại London vào năm 1909. Năm 1937, Kolynos được sản xuất tại 22 quốc gia và bán ở 88 quốc gia. Cho đến thời hiện đại, Kolynos phổ biến chủ yếu ở Nam Mỹ và Hungary. Colgate-Palmolive đảm nhận sản xuất công ty Wyeth vào năm 1995 với chi phí 1 tỉ USD.[11]

Kem nha khoa Colgate, Gardol - ca. 1950s

Fluoride được thêm vào kem đánh răng vào những năm 1890. "Tanagra", chứa canxi florua là thành phần hoạt chất, đã được Công ty Karl F. Toellner của Bremen, Đức, bán dựa trên công trình nghiên cứu ban đầu của nhà hóa học Albert Deninger.[12] Một sáng kiến tương tự do Roy Cross, thành phố Kansas, Missouri, ban đầu đã chỉ trích bởi Hiệp hội Nha khoa Hoa Kỳ (ADA) vào năm 1937. Kem đánh răng florit phát triển vào thập niên 1950 đã nhận được sự chấp thuận của ADA. Để phát triển kem đánh răng có fluorit được ADA chấp thuận đầu tiên, Procter & Gamble bắt đầu chương trình nghiên cứu vào đầu những năm 1940. Năm 1950, Procter & Gamble đã phát triển một nhóm nghiên cứu chung do Tiến sĩ Joseph Muhler thuộc Đại học Indiana thực hiện để nghiên cứu kem đánh răng mới với florit. Năm 1955, sản phẩm Crest của Procter & Gamble ra mắt loại kem đánh răng có chứa florit được thử nghiệm lâm sàng lần đầu tiên. Vào ngày 1 tháng 8 năm 1960, ADA đã báo cáo rằng "Crest đã được chứng minh là loại kem đánh răng có khả năng chống ăn mòn hiệu quả có thể có giá trị đáng kể khi được sử dụng trong chương trình vệ sinh răng miệng và chăm sóc chuyên nghiệp thường xuyên."

Năm 2006, BioRepair xuất hiện ở Châu Âu với loại kem đánh răng đầu tiên có chứa hydroxylapatite tổng hợp thay thế cho florit để tái tạo và phục chế men răng. Các "biomimetic hydroxylapatite" được dùng để bảo vệ răng bằng cách tạo ra một lớp men tổng hợp xung quanh răng thay vì đông cứng lớp hiện tại bằng florit mà thay đổi về mặt hóa học thành fluorapatite.[13]

Tháng 6 năm 2007, Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) và các cơ quan tương tự ở Panama, Puerto RicoAustralia khuyên người tiêu dùng nên tránh một số loại kem đánh răng được sản xuất tại Trung Quốc sau khi một số phát hiện chứa diethylene glycol độc hại, còn được gọi là diglycol hoặc dán nhãn "DEG" trên ống.[14]

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài nước chiếm 20-42%, kem đánh răng có nguồn gốc từ nhiều thành phần khác nhau, ba loại chính là chất mài mòn, chất florit và chất tẩy rửa.

Chất mài mòn[sửa | sửa mã nguồn]

Chất mài mòn chiếm ít nhất 50% loại kem đánh răng thông thường. Những hạt không hòa tan này giúp loại bỏ mảng bám khỏi răng. Loại bỏ mảng bám và vôi răng giúp giảm tối thiểu sâu răng và bệnh nha chu. Chất mài mòn đại diện bao gồm các hạt nhôm hydroxit (Al(OH)3), canxi cacbonat (CaCO3), các canxi hydro photphat (CaHPO4) khác nhau, các siliczeolit khác nhau và hydroxyapatit ( Ca5(PO4)3OH ).

Chất mài mòn, giống như chất đánh bóng nha khoa được sử dụng trong phòng mạch nha khoa, cũng gây ra số lượng nhỏ xói mòn men được gọi là hành động "đánh bóng". Một số nhãn hiệu có chứa mica trắng dạng bột, hoạt động như chất mài mòn nhẹ và cũng bổ sung tính trang điểm đem đến độ lung linh lấp lánh cho kem. Đánh bóng răng sẽ loại bỏ vết bẩn khỏi bề mặt răng, nhưng không thể chứng minh cải thiện được sức khoẻ răng miệng trong và ngoài hiệu quả khi loại bỏ mảng bám và vôi răng.[15]

Tác dụng mài mòn của kem đánh răng được biểu thị theo giá trị RDA. Giá trị RDA quá cao cần được xem điểm giới hạn và một số nha sĩ đề nghị kem đánh răng có giá trị RDA không cao hơn 50 cho sử dụng hàng ngày.

Fluorides[sửa | sửa mã nguồn]

Fluoride in various forms is the most popular active ingredient in toothpaste to prevent cavities. Fluoride occurs in small amounts in plants, animals, and some natural water sources. The additional fluoride in toothpaste has beneficial effects on the formation of dental enamel and bones. Sodium fluoride (NaF) is the most common source of fluoride, but stannous fluoride (SnF2), olaflur (an organic salt of fluoride), and sodium monofluorophosphate (Na2PO3F) are also used. Stannous fluoride has been shown to be more effective than sodium fluoride in reducing the incidence of dental caries[16] and controlling gingivitis, but causes somewhat more surface stains.[17]

Much of the toothpaste sold in the United States has 1,000 to 1,100 parts per million fluoride. In European countries, such as the UK or Greece, the fluoride content is often higher; a NaF content of 0.312% w/w (1,450 ppm fluoride) is common.

Surfactants[sửa | sửa mã nguồn]

Many, although not all, toothpastes contain sodium lauryl sulfate (SLS) or related surfactants (detergents). SLS is found in many other personal care products, as well, such as shampoo, and is mainly a foaming agent, which enables uniform distribution of toothpaste, improving its cleansing power.[15]

Despite the different ingredients included in the toothpaste, recent study (meta analysis) indicates that brushing with or without toothpaste has no impact on the level of plaque removal.[18]

Other components[sửa | sửa mã nguồn]

Antibacterial agents[sửa | sửa mã nguồn]

Triclosan, an antibacterial agent, is a common toothpaste ingredient in the United Kingdom. Triclosan or zinc chloride prevent gingivitis and, according to the American Dental Association, helps reduce tartar and bad breath.[1][19] A 2006 review of clinical research concluded there was evidence for the effectiveness of 0.30% triclosan in reducing plaque and gingivitis.[20]

Flavorants[sửa | sửa mã nguồn]

Toothpaste comes in a variety of colors, and flavors intended to encourage use of the product. Three most common flavorants are peppermint, spearmint, and wintergreen. Toothpaste flavored with peppermint-anise oil is popular in the Mediterranean region. These flavors are provided by the respective oils, e.g. peppermint oil.[15] More exotic flavors include Anethole anise, apricot, bubblegum, cinnamon, fennel, lavender, neem, ginger, vanilla, lemon, orange, and pine. Alternatively, unflavored toothpastes exist.

Remineralizers[sửa | sửa mã nguồn]

Hydroxyapatite nanocrystals and a variety of calcium phosphates are included in formulations for remineralization,[21] i.e. the reformation of enamel.

Toothpaste is sold in many brands.

Miscellaneous components[sửa | sửa mã nguồn]

Agents are added to suppress the tendency of toothpaste to dry into a powder. Included are various sugar alcohols, such as glycerol, sorbitol, or xylitol, or related derivatives, such as 1,2-propylene glycol and polyethyleneglycol.[22] Strontium chloride or potassium nitrate is included in some toothpastes to reduce sensitivity. Sodium polyphosphate is added to minimize the formation of tartar.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Bôi kem đánh răng lên mặt lông của bàn chải một lượng vừa đủ và chải nhẹ nhàng lên răng. Đánh răng xong súc miệng lại bằng nước sạch. Nên đánh răng sau khi ăn xong, tối trước khi đi ngủ và sáng sau khi thức dậy, ít nhất hai lần mỗi ngày. Để tránh làm tổn thương men răng, hãy chọn bàn chải tốt, sáu tháng thay một lần để đảm bảo vệ sinh lông bàn chải, tránh nhiễm khuẩn.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă American Dental Association Description of Toothpaste“Toothpaste”. 15 tháng 4 năm 2010. 
  2. ^ “Toothpaste overdose”. National Library of Medicine. National Institutes of Health. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  3. ^ The History of Toothpaste and Toothbrushes. Bbc.co.uk. Retrieved on April 4, 2013.
  4. ^ a ă Sertima, Ivan Van (1992). The Golden Age of the Moor. Transaction Publishers. tr. 267. ISBN 1-56000-581-5. 
  5. ^ Lebling Jr., Robert W. (July–August 2003). “Flight of the Blackbird”. Saudi Aramco World: 24–33. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2008. 
  6. ^ “Other ingredients in toothpaste”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007. 
  7. ^ Schlosser, Jim (December 20, 2005) "Get the lead out didn't always mean for soldiers to speed up during World War II. It meant removing lead from toothpaste tubes to make bullets." blog.news-record.com
  8. ^ The Talk of the Town: Collapsible. The New Yorker (August 6, 1960). Retrieved on April 4, 2013.
  9. ^ Kerry Segrave (27 tháng 1 năm 2010). America Brushes Up: The Use and Marketing of Toothpaste and Toothbrushes in the Twentieth Century. McFarland. tr. 35. ISBN 978-0-7864-5684-0. 
  10. ^ Obituary on Harry Ward Foote, Science, March 6, 1942, p. 241–242
  11. ^ Kolynos Toothpaste and Nalgiri Cosmetics – A curious blend of Greek and Hindu.
  12. ^ Early dental fluoride preparations (dentifrice, mouthwash, tablets, etc.). Fluoride-history.de. Retrieved on April 4, 2013.
  13. ^ An enamel toothpaste that repairs teeth. BioRepair (January 18, 2013). Retrieved on April 4, 2013.
  14. ^ “Throw away Chinese toothpaste, FDA warns”. NBC News. Associated Press. 1 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2007. 
  15. ^ a ă â Wolfgang Weinert in "Oral Hygiene Products" Ullmann's Encyclopedia of Industrial Chemistry, 2005, Wiley-VCH, Weinheimdoi:10.1002/14356007.a18_209
  16. ^ Nevitt GA, Witter DH, Bowman WD (tháng 9 năm 1958). “Topical applications of sodium fluoride and stannous fluoride”. Public Health Rep 73 (9): 847–50. JSTOR 4590256. PMC 1951625. PMID 13579125. doi:10.2307/4590256. 
  17. ^ Perlich, MA; Bacca, LA; Bollmer, BW; Lanzalaco, AC; McClanahan, SF; Sewak, LK; Beiswanger, BB; Eichold, WA và đồng nghiệp (1995). “The clinical effect of a stabilized stannous fluoride dentifrice on plaque formation, gingivitis and gingival bleeding: a six-month study”. The Journal of Clinical Dentistry 6 (Special Issue): 54–58. PMID 8593194. 
  18. ^ Valkenburg, Cees; Slot, Dagmar E.; Bakker, Eric W.P.; Van der Weijden, Fridus A. (1 tháng 12 năm 2016). “Does dentifrice use help to remove plaque? A systematic review”. Journal of Clinical Periodontology (bằng tiếng Anh) 43 (12): 1050–1058. ISSN 1600-051X. doi:10.1111/jcpe.12615. 
  19. ^ “Triclosan: What Consumers Should Know”. 17 tháng 4 năm 2010. 
  20. ^ Gunsolley, JC (tháng 12 năm 2006). “A meta-analysis of six-month studies of antiplaque and antigingivitis agents”. J Am Dent Assoc 137 (12): 1649–57. PMID 17138709. doi:10.14219/jada.archive.2006.0110. Seventeen studies support the antiplaque, antigingivitis effects of dentifrices containing 0.30 percent triclosan, 2.0 percent Gantrez copolymer. 
  21. ^ Calcium Phosphate Technologies from. dentist.net. Retrieved on April 4, 2013.
  22. ^ Simon Quellen Field "Why There's Antifreeze in Your Toothpaste: The Chemistry of Household Ingredients" 2008, Chicago Review Press. ISBN 1-55652-697-0


Bộ chăm sóc răng miệng

Bàn chải đánh răng | Kem đánh răng | Dụng cụ cạo lưỡi | Chỉ nha khoa | Nước súc miệng | Tăm xỉa răng