Lê Quýnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Quýnh
黎侗
Chân dung Lê Quýnh (chú : 東京人 / Người Đông Kinh) trong họa phẩm Tây dương Đông dương nhân vật đồ (西洋東洋人物図巻) của Nhật Bản.
Công việc Đồng binh chương sự
Quốc gia Personal Flag of Emperor Minh Mang.svg An Nam
Dân tộc Việt
Học vấn Hán học
Bằng cấp Ấm sinh
Giai đoạn sáng tác 1789 - 1805
Thể loại Thơ
Văn
Chủ đề Tùng thoại
Trào lưu Cổ điển
Tác phẩm nổi bật Bắc hành tùng ký

Lê Quýnh (tiếng Trung: 黎烱

, Nôm: 黎侗 ; 1750 - 1805) là một võ quan triều Lê trung hưng.

Sinh bình[sửa | sửa mã nguồn]

Quýnh vốn là tên cúng cơm của ông Lê Doãn Hữu (黎允有)[1], nguyên quán tại hương Đại Mão, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay là thôn Đại Mão, xã Hoài Thượng, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Ông là trai trưởng của tiến sĩ Lê Doãn Giản[2]. Vào năm 21 tuổi, Lê Quýnh được bổ làm học sinh ở Chiêu Văn quán[3]. Thuở trẻ, ông là một công tử chơi bời nhưng cũng biết làm văn. Năm 1774, khi vừa 25 tuổi, cha mất, ông về quê để phụng dưỡng mẹ[3].

Phò vua chống Tây Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1786, sau khi Nguyễn Huệ diệt họ Trịnh, ông đem 300[3] gia đinh ra Đông Kinh bảo vệ vua Lê Hiển Tông. Sau khi Lê Hiển Tông qua đời, cháu nội là Lê Duy Kỳ lên thay, tức vua Lê Chiêu Thống. Lê Quýnh nhận lệnh trấn giữ miền Giang Bắc, cắt đặt các công việc. Khi xong việc về kinh được phong tước Tư Ốc bá, bấy giờ 37 tuổi[3].

Tháng 12 âm lịch năm 1787, sau khi Vũ Văn Nhậm đem quân Tây Sơn tiến vào Thăng Long, Lê Chiêu Thống bỏ kinh thành chạy lên Kinh Bắc[2], sai hoàng đệ Duy Chi đem thị thần Lê Quýnh và tôn thất tất cả hơn 30 người rước thái hậu và nguyên tử (con trai Lê Chiêu Thống) đi Cao Bằng[2].

Tháng 4 năm 1788, ông tới được Thái Nguyên, gặp Đốc trấn Cao Bình cho người đón lên Mục Mã (thuộc Cao Bình) nhưng không lâu sau quân Tây Sơn đuổi tới, ông cùng đốc đồng Nguyễn Huy Túc, phiên thần Địch quận công Hoàng Ích Hiểu, Trường Xa hầu Phạm Đình Phan và Phượng Thái hầu Nguyễn Quốc Đống bảo vệ thái hậu và nguyên tử theo cửa ải Thủy Khẩu chạy sang Long Châu[2][3]. Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị được lệnh che chở cho họ ở Nam Ninh và vua Càn Long bằng lòng cứu viện vua Lê. Sau đó Lê Quýnh và Nguyễn Quốc Đống trở về tâu với Lê Chiêu Thống[2]. Lê Chiêu Thống sai tham tri chính sự Lê Duy Đản và Hàn lâm hiệu thảo Trần Danh Án vâng mệnh lệnh đem tờ bẩm, đi đường tắt, lên đón quân nhà Thanh[2]. Ngày 24 tháng 10 năm 1788[2], quân Thanh được lệnh lên đường, tới ngày 1 tháng 11 đã vượt biên giới tiến vào Lạng Sơn và ngày 22 tháng ấy lấy lại kinh thành Thăng Long, đưa Lê Chiêu Thống trở lại ngai vàng. Lê Chiêu Thống phong Lê Quýnh lên Trung quân đô đốc, tước Trường Phái hầu[2]. Theo Bắc hành tùng ký, Lê Quýnh được giao làm Tổng binh Đỉnh đái[3].

Ngày 2 tháng 12 năm 1789, Lê Chiêu Thống sai Lê Quýnh giữ việc tổng quản binh lương, hạn ngày tiến quân đánh dẹp quân của vua Quang Trung. Nhưng Tôn Sĩ Nghị muốn dùng kế dụ địch đến, giục Chiêu Thống thu hồi lại ấn kiếm, đổi chức vụ của Quýnh làm Đồng binh chương sự. Bấy giờ bệnh sốt rét của Lê Quýnh rất nguy kịch, bèn xin về nhà nghỉ để thuốc men điều trị[3]. Sau đó, quân Tây Sơn phản công và nhanh chóng đánh thắng quân Thanh. Lê Chiêu Thống lại phải chạy sang đất Trung Quốc vào đầu tháng Giêng năm 1789.

Lưu lạc đất khách[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1789, Lê Quýnh mới biết Tôn Sĩ Nghị đã thất bại, Lê Chiêu Thống đã chạy sang Trung Quốc. Ông lại tụ họp quân sĩ để đợi quân của Lê Chiêu Thống[3].

Tháng 4 năm 1789, Phúc Khang An, khi đó thay Tôn Sĩ Nghị làm tổng đốc Lưỡng Quảng, đã dâng biểu xin hoàng đế Càn Long bãi binh. Các thần Hoà Thân ngấm ngầm ở trong ủng hộ cho kiến nghị ấy của Khang An, cố sức khuyên vua Thanh nên bãi binh. Vua Thanh cho lời tâu ấy là phải, bèn ra sắc mệnh phong Văn Huệ làm An Nam quốc vương, rồi triệu Lê Chiêu Thống và các bầy tôi trước sau theo sang tòng vong đều cho phép lục tục vào cả Yên Kinh[2].

Tháng 6, Lê Quýnh gặp người anh họ tên là Lê Huy Lý, vâng mệnh Phúc Khang An sai về gọi Lê Quýnh lên biên ải hỏi lý lẽ. Lúc ấy những việc mưu tính của ông còn chưa xong, bệnh cũng chưa khỏi hẳn nên đến tháng 7 mới lên đường đến cửa ải Nam Quan[3].

Phúc Khang An sai người gọi bọn Lê Quýnh, Lê Doãn Trị, Trịnh Hiến và Lý Gia Du vài mươi người đến Quảng Tây dụ bảo gióc tóc và thay đổi đồ mặc. Lê Quýnh đáp lại rằng :

Được ơn vời đến đây, chúng tôi chưa được nghe ngài dạy bảo rõ ràng gì cả, thế mà nay chỉ bắt chúng tôi gióc tóc thì há phải là ý muốn ban đầu của bọn Quýnh này chạy vạy hàng hai, ba ngàn dặm sang đây để nhận lãnh lệnh truyền ấy đâu? Đầu chúng tôi có thể chặt được, chứ tóc chúng tôi không thể gióc được"[2]. Phúc Khang An tức giận, cho đưa luôn cả bọn Lê Quýnh lên Yên Kinh[2].

Bọn Quýnh đi đến Sơn Đông thì vừa gặp vua Thanh Càn Long đi tuần du ở phía đông. Vua Thanh triệu Lê Quýnh cùng đồng liêu vào yết kiến nói:

Chúa nhà các ngươi đã tình nguyện yên phận ở lại Trung Quốc rồi, các ngươi đã một niềm theo vua thì khá lập tức gióc tóc và thay đổi lối ăn mặc để đợi lựa chọn bổ dùng.

Lê Quýnh từ tạ mà rằng:

Muôn dặm đi tòng vong, chúng tôi xin được giữ theo quốc tục để vào yết kiến quốc vương một chút đã, rồi sau sẽ xin vâng theo chỉ dụ gióc tóc cũng chưa muộn.

Vua Thanh khen nói:

Thật là trung thần của họ Lê.

Tuy vậy, Càn Long vẫn cho đưa Lê Quýnh và các đồng liêu vào Yên Kinh. Về sau, vì không chịu gióc tóc, Lê Quýnh bị khép vào tội chống mệnh lệnh vua Thanh, bị giam ở ngục Bắc Sở thuộc tu Thận Hình[2].

Tháng 5 năm 1792, con nhỏ của Lê Chiêu Thống qua đời, đến ngày 16 tháng 10 năm 1793 vua Lê Chiêu Thống buồn rầu mà chết[2]. Tới tháng 11 năm 1799 thì thái hậu mẹ Lê Chiêu Thống cũng chết. Cùng năm ấy (1799), vua Thanh Gia Khánh sai thả Lê Quýnh và các đồng liêu ra khỏi ngục, từ đầu tóc đến ăn mặc đều được để cho tùy tiện[2].

Hồi hương[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1802, sau khi diệt xong nhà Tây Sơn, Gia Long đế phái quan Binh bộ Thượng thư Lê Quang Định làm chánh sứ sang Đại Thanh cầu phong[4]. Nhân đó, ông Lê Quýnh cùng các di thần nhà Lê trung hưng đương còn lưu lạc Bắc quốc xin đưa tro cốt của Lê Mẫn Đế, thái hậuthái tử về cố quốc để an táng. Việc này được hoàng đế Gia Khánh chuẩn thuận, lại sai người sắp đặt chuyến đi rất chu đáo. Ngày 13 tháng 8 năm 1804, đoàn hộ tống di hài gồm 3 người về tới Bắc Thành, Gia Long đế cho an táng tại đất Lam Kinh[5]. Tương truyền, trong những năm cuối đời sống tại quê nhà, Lê Quýnh không chịu sửa lối ăn mặc theo luật nhà Nguyễn, ông vẫn xõa tóc mặc áo cừu đi lang thang khắp các đền chùa như một người khất thực. Nhằm ngày 16 tháng 9 âm lịch năm Ất Sửu (1805), ông mất, hưởng dương 55 tuổi.

Trứ tác[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm của Lê Quýnh còn lưu lại khá nhiều, gồm các tập Bắc hành tùng ký (北行叢記), Bắc hành lược biênBắc sở tự tình phú[6], có phẩm chất sử liệu và văn chương lớn.

Gia thế[sửa | sửa mã nguồn]

Vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè năm Tự Đức thứ 14 (1860), các quan ở Bộ theo lời bàn kê rõ lý lịch các vị cựu thần nhà Hậu Lê, vâng chỉ dụ của nhà vua cho lập đền thờ ở phía Tây thành Đông Kinh, tại phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận (nay là ngõ 124, đường Thụy Khê, Hà Nội[6]). Thứ tự các bài vị đều sắp đặt theo như lời bàn của Bộ. Chính giữa là linh vị của Trường Phái hầu Lê Quýnh, đặt thụy Trung Nghị. Bên tả bày linh vị của 11 người, gồm có Đề lĩnh Nguyễn Viết Triệu, Thượng thư Bút phong Đình Giản, Đinh Võ hầu Trần Quang Châu, Trần Danh Kệ, Hữu thị lang Nguyễn Huy Diệu, trấn thủ Lê Hân, chỉ huy Lê Doãn Trị, chưởng tứ bảo Lê Quý Thích, Nguyễn Hùng Trung, Lê Tùng, tả tham chính Kinh Bắc, Bình vọng Lê Trọng Trường. Bên hữu bày linh vị của mười một người, gồm có tĩnh nạn công thần Trần Danh Án, thanh hình hiến phó sứ Tuyên Quang Nguyễn Đình Viện, nội thị Nguyễn Quyên, Trần Đĩnh, đốc đồng Nguyễn Quốc Đống, Địch quận công Hoàng ích Hiểu; Nguyễn Đình Miên, Đoàn Thận Xưởng võ uý Nguyễn Trọng Du, Lê Thức, Cận quang hầu Phạm Như Tùng. Tất cả 22 người ấy đều được đặt thuỵ hiệu là "Trung Mẫn"[7]. Ngoài ra, ở phía Đông thờ 5 người là Nguyễn Ngọc Liễn, Vương Triệu, Vương Chấn Thiều, Tôn Hạp, Lê Diên Định. Ở nhà phía Tây thờ 5 người là Trần Lương, Trần Đăng, Vũ Trọng Dật, Trần Dần, Trần Hạc. Từ Lê Quýnh trở xuống cộng 33 người, trên đầu đều đề là Cố Lê tiết nghĩa thần và ngôi đền cũng đề là Cố Lê tiết nghĩa từ[7].

Từ năm 1954, tại Hải Phòng có một con đường mang tên Lê Quýnh để tôn vinh ông.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bắc hành tùng ký - Lê Quýnh qua lời giới thiệu của giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Tập san Sử Địa số 13 và 14, 1969.