Milla Jovovich

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Milla Jovovich
Milla Jovovich Cannes 2016.jpg
SinhMilica Bogdanovna Jovovich
17 tháng 12, 1975 (45 tuổi)
Kiev, Ukraina Xô viết, Liên Xô
Quốc tịchHoa Kỳ
Nghề nghiệp
  • Diễn viên
  • Người mẫu
  • Nhạc sĩ
Năm hoạt động1985–hiện tại
Phối ngẫu
Shawn Andrews
(cưới 1992⁠–⁠1992)

Luc Besson
(cưới 1997⁠–⁠1999)

Paul W. S. Anderson
(cưới 2009)
Con cái3
Cha mẹ
Trang webmillaj.com

Milica Bogdanovna Jovovich[nb 1][nb 2] (/ˈjvəvɪ/ YOH-və-vich; sinh ngày 17, tháng 12 năm 1975) là một nữ diễn viên,người mẫu và nhạc sĩ người Mỹ.[2] Cô đã xuất hiện trong nhiều bộ phim khoa học viễn tưởngphim hành động,Năm 2004,cô được tạp chí Forbes Bình chọn là nữ diễn viên có thù lao cao nhất thế giới.Năm 2006,cô dẫn đầu kênh âm nhạc VH1 và là "nữ hoàng của kick-butt".[3].[4]

Sinh ra ở Kiev, Jovovich di cư với bố mẹ đến London khi cô năm tuổi và sau đó di cư đến Sacramento, California, định cư tại Los Angeles bảy tháng sau đó. Năm 1987, cô bắt đầu làm người mẫu từ năm 12 tuổi khi Herb Ritts chụp ảnh cô cho trang bìa tạp chí Lei của Ý.[5][6] Richard Avedon đã giới thiệu cô cho quảng cáo "Người phụ nữ đáng nhớ nhất trên thế giới" của Revlon.[7] Năm 1988, Jovovich đóng vai đầu tiên trong phim The Night Train to Kathmandu và năm đó cũng xuất hiện trong bộ phim truyện đầu tiên của cô, Two Moon Junction.

Jovovich đã thu hút sự chú ý khi đống vai diễn phim lãng mạn năm 1991 Return to the Blue Lagoon, khi cô mới 15 tuổi.[8] Cô được đánh giá có bước đột phá với vai diễn trong bộ phim khoa học viễn tưởng năm 1997 The Fifth Element của Pháp do Luc Besson viết kịch bản và đạo diễn. Cô và Besson kết hôn năm đó, nhưng sớm ly dị. Cô đóng vai chính nữ anh hùng và kẻ tử đạo trong The Messenger: The Story of Joan of Arc (1999). của Besson.

Năm 2002, Jovovich đóng vai chính trong bộ phim kinh dị khoa học viễn tưởng Resident Evil, được chuyển thể từ loạt trò chơi điện tử cùng tên. Phim nhận được những nhận xét tiêu cực từ các nhà phê bình,[9][10] nhưng đã thành công về mặt thương mại.[11] Cô diễn lại vai diễn của mình trong năm phần tiếp theo, tất cả trong dòng phim hành động kinh dị khoa học viễn tưởng, được thực hiện giữa năm 2004 và năm 2016.[12]

Jovovich đã phát hành một album, The Divine Comedy, vào năm 1994. Cô tiếp tục phát hành các bản demo cho các bài hát khác trên trang web chính thức của mình và đóng góp cho soundtracks phim. Năm 2003, cô và người mẫu Carmen Hawk đã tạo ra dòng quần áo Jovovich-Hawk. Jovovich có công ty sản xuất riêng của mình, Creature Entertainment.[13]

Sự nghiệp người mẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Milla jovovich bắt đầu sự nghiệp người mẫu năm 11 tuổi và tiếp tục sự nghiệp với những chiến dịch quảng cáo danh tiếng cho L'Oréal cosmetics, Banana Republic, Christian Dior, Donna KaranVersace. năm 2004 cô đứng đầu danh sách Những Siêu Mẫu Giàu Nhất Thế giới do tạp chí Forbes bình chọn với số tiền kiếm được là 10.5 triệu USD/ năm. Cũng trong năm đó cô xếp hạng 69 trong top 100 của tạp chí Maxim.

Sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1988 cô có vai diễn chuyên nghiệp đầu tiên trong bộ phim truyền hình The Night Train to Kathmandu. Sau đó một năm, vào năm 1989 cô có vai diễn trong bộ phim điện ảnh đầu tiên của mình Two Moon Junction, theo sau là nhiều lần xuất hiện trên truyền hình trong bộ phim truyền hình Married with Children. Cô nhận được nhiều sự chú ý từ sau bộ phim tình cảm lãng mạn Return to the blue lagoon (1991). năm 1997 Milla diễn cùng tài tử Bruce willis trong bộ phim khoa học viễn tưởng The Fifth Element và năm 1999 cô vào vai Joan Of Arc trong bộ phim The Messenger: The Story of Joan of Arc. Vào năm 2002, cô vào vai chính trong bộ phim dược chuyển thể từ trò chơi điện tử cùng tên Resident evil - một trò chơi rất ăn khách trên hệ máy Playstation, bộ phim có ba phần tiếp theo là Resident Evil: Apocalypse (2004), Resident evil: Extinction (2007) và Resident Evil: Afterlife (2010), năm 2009 là một năm bận rộn của cô với 2 bộ phim sắp ra mắt (A perfect getawayThe 4th Kind) và 2 bộ phim đang trong giai đoạn sản xuất (Azazelstone). trong suốt cả sự nghiệp diễn xuất của mình cô đã có tổng cộng tám đề cử tuy nhiên cô chưa thắng được đề cử nào.

Sự nghiệp thiết kế thời trang[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2003 cô và siêu mẫu Carmen Hawk đã thành lập một công ty thời trang mang tên Jovovich-Hawk với vai trò là nhà thiết kế chính.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện cô đang sống chung với chồng - đạo diễn nhà viết kịch bản nổi tiếng Paul W. S. Anderson (người là đạo diễn và cũng là nhà viết kịch cho seri phim Resident Evil mà cô thủ vai chính) tại L.ANew York. 3/11/2007 cô hạ sinh một bé gái - con của cô và Paul W. S. Anderson - tên là Ever Gabo Anderson.

Cô tập yoga, võ thuật và ngồi thiền, cô thích chơi ghita, viết nhật ký, thơ và viết lời cho các bài hát.

Cô nói được 4 thứ tiếng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Serbi.

Các phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Key
Denotes productions that have not yet been released Phim chưa công chiếu
Phim điện ảnh
Năm Tựa đề Vai diễn Đạo diễn Ghi chú
1988 Two Moon Junction Samantha Delongpre Zalman King
1991 Return to the Blue Lagoon Lilli Hargrave William A. Graham [14]
1992 Kuffs Maya Carlton Bruce A. Evans
Chaplin Mildred Harris Richard Attenborough
1993 Dazed and Confused Michelle Burroughs Richard Linklater
1996 The Mirror Has Two Faces Girl in Commercial Barbra Streisand Uncredited Cameo
1997 The Fifth Element Leeloo de Sabat Luc Besson [15]
1998 He Got Game Dakota Burns Spike Lee [16]
1999 The Messenger: The Story of Joan of Arc Joan of Arc Luc Besson
2000 The Claim Lucia Michael Winterbottom
The Million Dollar Hotel Eloise Wim Wenders
2001 Zoolander Katinka Ingaborgovinanana Ben Stiller [17]
2002 Resident Evil Alice Paul W. S. Anderson
You Stupid Man Nadine Brian Burns
2003 Dummy Fangora "Fanny" Gurkel Greg Pritikin
No Good Deed Erin Bob Rafelson
2004 Resident Evil: Apocalypse Alice Alexander Witt
2005 Needlework Pictures Presents Francesco Vezzoli in Gore Vidal's 'Caligula' Julia Drusilla Francesco Vezzoli Short film
2006 Ultraviolet Violet Song Jat Shariff Kurt Wimmer [18]
.45 Kat Gary Lennon
2007 Resident Evil: Extinction Alice Russell Mulcahy [19]
2008 Palermo Shooting Herself Wim Wenders
2009 A Perfect Getaway Cydney Anderson David Twohy [20]
The Fourth Kind Dr. Abigail "Abbey" Tyler Olatunde Osunsanmi [21]
2010 Stone Lucetta Creeson John Curran
Resident Evil: Afterlife Alice Paul W. S. Anderson [22]
Dirty Girl Sue-Ann Edmondston Abe Sylvia [23]
2011 Lucky Trouble Nadya Levan Gabriadze Russian-language
Bringing Up Bobby Olive Famke Janssen [24]
The Three Musketeers Milady de Winter Paul W. S. Anderson [25]
Faces in the Crowd Anna Marchant Julien Magnat Also executive producer,[26]
2012 Resident Evil: Retribution Alice Paul W. S. Anderson [27]
2014 Cymbeline The Queen Michael Almereyda [28]
2015 Phản sát Kate Abbott James McTeigue [29]
A Warrior's Tail Savva Maxim Fadeev Voice only (English version)
2016 Trai đẹp lên sàn Katinka Ingaborgovinanana Ben Stiller [30]
Vùng đất quỷ dữ: Hồi cuối Alice / Alicia Marcus Paul W. S. Anderson [31][32]
2017 Shock and Awe Vlatka Rob Reiner [33]
2018 Future World The Drug lord James Franco & Bruce Thierry Chung [34]
2019 Paradise Hills The Duchess Alice Waddington [35]
Hellboy Vivienne Nimue, the Blood Queen Neil Marshall [36][37]
The Rookies Senior Agent Bruce Alan Yuen
2020 Thợ săn quái vật Captain Natalie Artemis Paul W. S. Anderson [38]
Phim truyền hình
Năm Tựa đề Vai trò Ghi chú
1988 The Night Train to Kathmandu Lily McLeod TV film
Paradise Katie Episode: "Childhood's End"
1989 Married... with Children Yvette Episode: "Fair Exchange"
1990 Parker Lewis Can't Lose Robin Fecknowitz Episode: "Pilot"
2002 King of the Hill Serena Shaw Episode: "Get Your Freak Off"
2009 Project Runway Herself Episode: "Around the World in Two Days"
2016 Lip Sync Battle Episode: "Milla Jovovich vs. Ruby Rose"
2018 Robot Chicken Nanny McPhee/Megan Hipwell/Mintie Voice
Episode: "We Don't See Much of That in 1940s America"
Video games
Year Title Voice
1998 The Fifth Element Leeloo de Sabat
2020 Monster Hunter World: Iceborne Captain Natalie Artemis[39]
Music videos
Year Song Artist
1998 "If You Can't Say No" Lenny Kravitz
2013 "I Wanna Be a Warhol" Alkaline Trio
2016 "Signal" Sohn
2018 "Withorwithout" Parcels

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Milla Jovovich không có tên nào là "Nataša";đó là sự nhầm lẫn của báo chí.Nataša là tên người anh em họ hàng của cô ấy.[1]
  2. ^ Serbian Cyrillic: Милица Јововић; tiếng Nga: Милица Йовович; tiếng Ukraina: Милиця Йовович

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Milla Jovovich's mother (ngày 23 tháng 8 năm 2005). “Галина Логінова: Сьогодні Київ, наче весела дiвчина, гарно вбрана i нафарбована” (Phỏng vấn) (bằng tiếng Ukrainian). Україна Молода. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  2. ^ “Milla Jovovich Official Site”. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2017. Chú thích có tham số trống không rõ: |1= (trợ giúp)
  3. ^ C. Bottomley, Milla Jovovich: Building a Perfect Action Star[liên kết hỏng],ngày 2 tháng 3 năm 2006,VH1.
  4. ^ “Milla: The world's richest model”. Forbes. ngày 28 tháng 7 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013.
  5. ^ “Millaj:Purple Love”. Purple magazine. MillaJ.com. 1990. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013.
  6. ^ Leon, Sarah (ngày 19 tháng 10 năm 2011). “Milla Jovovich Magazine Cover, 1987: A Look Back”. The Huffington Post. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013.
  7. ^ Dolan, Maggie (ngày 17 tháng 12 năm 2013). “Milla Jovovich's Paper Covers, a Retrospective”. Paper. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2015.
  8. ^ “Milla Jovovich Filmography”. MillaJ.com. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2013.
  9. ^ “Resident Evil (2002)”. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013.
  10. ^ Roger Ebert (ngày 11 tháng 8 năm 2005). “Ebert's Most Hated”. Chicago Sun-Times. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013.
  11. ^ “Resident Evil”. Box Office Mojo. Amazon.com. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013.
  12. ^ “Resident Evil: Afterlife Back to 2010”. CraveOnline Media, LLC. ShockTilYouDrop.com. ngày 11 tháng 1 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2017. Đã định rõ hơn một tham số trong |archiveurl=|archive-url= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |archivedate=|archive-date= (trợ giúp)
  13. ^ “Milla's Tale”. Harpers & Queen. tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2013.
  14. ^ Ng, Philiana (9 tháng 12 năm 2011). “Lifetime Moves Forward With 'Blue Lagoon' Remake”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  15. ^ Byrge, Duane (9 tháng 5 năm 2018). 'The Fifth Element': THR's 1997 Review”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  16. ^ Rechtshaffen, Michael (1 tháng 5 năm 2019). 'He Got Game': THR's 1998 Review”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2021.
  17. ^ Fletcher, Harry (28 tháng 11 năm 2015). “The Zoolander 2 trailer is breaking comedy records”. Digital Spy (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2021.
  18. ^ Jeffery, Morgan (14 tháng 1 năm 2012). 'Ultraviolet': Tube Talk Gold”. Digital Spy (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2021.
  19. ^ AP; AP (23 tháng 9 năm 2007). “Resident Evil: Extinction”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2021.
  20. ^ Honeycutt,AP, Kirk; Honeycutt, Kirk; AP (5 tháng 8 năm 2009). “A Perfect Getaway — Film Review”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  21. ^ AP; AP (4 tháng 11 năm 2009). “The Fourth Kind — Film Review”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  22. ^ Gaudiosi, John (9 tháng 9 năm 2010). “A Minute With: Milla Jovovich in "Resident Evil". Reuters (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  23. ^ AP; AP (14 tháng 10 năm 2010). “Dirty Girl: Film Review”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  24. ^ Staff, T. H. R. (27 tháng 9 năm 2012). “Bringing Up Bobby: Film Review”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  25. ^ Reynolds, Simon (12 tháng 10 năm 2011). “Milla Jovovich talks 'Three Musketeers'. Digital Spy (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2021.
  26. ^ Green, Kris (30 tháng 6 năm 2008). 'Face In The Crowd'. Digital Spy (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  27. ^ Staff, T. H. R. (14 tháng 9 năm 2012). “Resident Evil Retribution: Film Review”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  28. ^ Anderson, Ariston (3 tháng 9 năm 2014). “Venice: Shakespeare's 'Cymbeline' Gets the Biker Gang Treatment”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  29. ^ McMillan, Graeme (2 tháng 4 năm 2015). “Milla Jovovich Is on the Run in 'Survivor' Trailer (Video)”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  30. ^ Rooney, David (9 tháng 2 năm 2016). 'Zoolander 2': Film Review”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  31. ^ Harp, Justin (9 tháng 8 năm 2016). “Resident Evil is back in wicked Final Chapter trailer”. Digital Spy (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2021.
  32. ^ Busch, David Robb,Anita; Robb, David; Busch, Anita (13 tháng 10 năm 2015). 'Resident Evil' Stuntwoman Injured On Set Out Of Coma – Update”. Deadline (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2021.
  33. ^ Young, Deborah (18 tháng 12 năm 2017). 'Shock and Awe': Film Review | Dubai 2017”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2021.
  34. ^ Scheck, Frank (26 tháng 5 năm 2018). 'Future World': Film Review”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  35. ^ Felperin, Leslie (31 tháng 1 năm 2019). 'Paradise Hills': Film Review | Sundance 2019”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  36. ^ Tartaglione, Nancy (8 tháng 2 năm 2019). 'Hellboy' To Be Unleashed In China Via JL Vision Film”. Deadline (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  37. ^ Seddon, Dan (16 tháng 4 năm 2019). “Hellboy star Milla Jovovich defends movie against its bad reviews”. Digital Spy (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  38. ^ Tartaglione, Nancy (8 tháng 12 năm 2020). 'Monster Hunter' Director Paul W.S. Anderson, Co-Star MC Jin Apologize Over Scene That Caused China Backlash”. Deadline (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2021.
  39. ^ Summers, Nick (25 tháng 11 năm 2020). “Milla Jovovich is coming to 'Monster Hunter World: Iceborne'. Engadget. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2020.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]