Ngân hàng Quốc gia Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mặt tiền của trụ sở Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được in trên tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng phát hành năm 1971

Ngân hàng Quốc gia Việt Namngân hàng trung ương của Quốc gia Việt NamViệt Nam Cộng hòa hình thành ngày 31 tháng 12 năm 1954 và hoạt động đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngoài việc phát hành tiền tệ, cơ quan này đảm trách việc quản lý tài chính và tham mưu các chính sách liên quan đến tiền tệ cho Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tờ giấy bạc giá trị năm đồng do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành

Theo nghị quyết số 48 thì Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập với bốn độc quyền:

  1. Phát hành giấy bạc và tiền kim loại tại Việt Nam, tức đồng tiền của Việt Nam Cộng hòa
  2. Tự do mua bán các quý kim và các ngoại tệ,
  3. Bảo đảm các tài khoản mua chịu của nhà nước,
  4. Kiểm tra các cơ sở tài chánh trong nước.

Trong những hoạt động đầu tiên là thu hồi tiền tệ do Viện Phát hành Quốc gia Việt, Miên, Lào (Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Viet-Nam) cho lưu hành, để thay bằng tiền mới của Ngân hàng Quốc gia.

Khó khăn về ngoại tệ và vàng[sửa | sửa mã nguồn]

Một khó khăn đối diện Ngân hàng Quốc gia từ lúc đầu là số lượng vàng dự trữ ở Việt Nam tổng cộng 33 tấn sau khi Đế quốc Nhật Bản bại trận năm 1945 thì Quân đội Pháp đã tiếp nhận vào chuyển về Pháp năm 1955. Chính phủ Đệ nhất Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm phải điều đình đòi hoàn lại. Khó khăn thứ hai là lượng ngoại tệ trong ngân khố phần lớn là tiền franc Pháp mà chính phủ Pháp hạn chế việc hoán đổi, mỗi năm chỉ được đổi lấy một lượng nhỏ sang Mỹ kim, bảng Anh, Đức mã hoặc yên Nhật. Trong khi đó thì đồng franc Pháp bị phá giá liên tục khiến giá trị lượng ngoại tệ của Việt Nam Cộng hòa bị cuốn theo những đợt giảm giá. Sau mấy lượt thương thuyết hai bên mới đồng thuận ký kết giải quyết việc tài chính kể cả việc Pháp giao lại 33 tấn vàng vào năm 1958. Kể từ đó Việt Nam chấm dứt lệ thuộc vào khu vực đồng franc (franc zone).

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Đối với các ngân hàng tư nhân ngoại quốc hay quốc nội hoạt động ở Việt Nam thì luật pháp bắt buộc các ngân hàng tư phải ký thác vào Ngân hàng Quốc gia 10-20% tổng số vốn.[1] Khi đổi ngoại tệ thì ngân hàng thương mại phải ký thác 25-100% tiền Việt Nam Cộng hòa vào Ngân hàng Quốc gia tương đương với lượng ngoại tệ mua vào.[2] Tuy nhiên Ngân hàng Quốc gia không nhận nhiệm vụ kiểm soát hối suất giữa tiền Việt Nam Cộng hòa và các ngoại tệ. Phận vụ này thuộc về Viện Hối đoái, một cơ quan tự trị thuộc Bộ Tài chánh.[3] Về mặt giao dịch, nhất thương vụ và việc cho các ngân hàng khác vay thì Ngân hàng Quốc gia ủy thác cho cơ quan phụ thuộc có tên gọi là Ngân hàng Việt Nam Thương tín (Crédit Commercial du Viet-Nam, Commercial Credit Bank of Vietnam). Tính đến năm 1975 thì Ngân hàng Việt Nam Thương tín là ngân hàng hoạt động quy mô nhất trong lãnh vực ngoại thương tại miền Nam.

Tính đến Tháng Chạp năm 1963 thì tổng sản vàng và ngoại tệ trong ngân khố trị giá 174,5 triệu USD trong khi số lượng tiền lưu hành là 16,645 tỷ đồng.[4]

Ngân hàng Quốc gia Việt Nam là sáng lập viên của Ngân hàng Phát triển châu Á (Asian Development Bank, ADB) năm 1966 cùng là thành viên của Quỹ tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund, IMF) và Ngân hàng Thế giới (World Bank, WB). Sau năm 1975 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kế thừa vai trò cũ của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam trong các tổ chức này.

Mặt sau tờ 10.000 đồng do ngân hàng quốc gia Việt Nam phát hành năm 1975.

Tích sản năm 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Khi chính thể Việt Nam Cộng hòa tan vỡ thì trong kho hầm sắt của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam có 1.234 thoi vàng và một số tiền cổ bằng vàng. Tổng cộng là hơn 16 tấn. Số quý kim này đã được giao lại cho giới chức Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp thu.[5]

Ngoài ra Ngân hàng Quốc gia Việt Nam còn có nhiều trương mục ký thác dự trữ ngoại tệ ở ngoại quốc như Ngân hàng Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ ở hai chi nhánh New YorkSan Francisco; Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (Bank of International Settlements, BIS) ở Basel, Thụy Sĩ; Bank of AmericaCitibank. Số ngoại tệ này phần lớn đầu tư vào công khố phiếu. Tính theo thời giá vào Tháng Ba, 1975 thì tổng giá trị là 179 triệu USD.[6]

Tích sản của Việt Nam Cộng hòa ký thác ở Hoa Kỳ nói chung lập tức bị niêm phong vào ngày 30 Tháng Tư, 1975, không được đụng tới nữa. Ngân khoản này đến năm 1990 căn cứ trên lãi suất đương thời thì ước đoán trị giá khoảng 300 triệu USD và vẫn chưa được giải quyết.[7]

Giải thể[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1975, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tiếp quản Ngân hàng Quốc gia Việt Nam và thông qua danh nghĩa của chủ ngân hàng này để thừa kế vai trò hội viên của Ngân hàng Việt Nam Cộng hòa này trong các tổ chức tài chính quốc tế như: IMF, WB, ADB và phát triển Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.[8]

Nhân vật liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Choinski, Walter Frank. Country Report: Republic of Vietnam. Washington, DC: The Military Assistance Institute, 1965.
  • Foreign Areas Studies Division. US Army Area Handbook for Vietnam. Washington, DC: Special Operations Research Office, 1962.
  • Nguyễn Tiến Hưng. Tâm tư Tổng thống Thiệu. Westminster, CA: Hứa Chấn Minh, 2010.
  • Thái Văn Kiểm. Viet Nam Past and Present. Paris: Bộ Quốc gia Giáo dục và Ủy hội Quốc gia UNESCO, 1957. tr 172-8.
  • Hồi ký Nguyễn Hữu Hanh, tổng giám đốc Ngân hàng Quốc gia Việt Nam 1955-1962
  1. ^ Assets and liabilities of commercial banks
  2. ^ Choinski, Walter. tr 126
  3. ^ Foreign Areas Studies Division. Tr 418
  4. ^ Choinski, Water. tr 127-131
  5. ^ Nguyễn Tiến Hưng. Tr 251
  6. ^ Nguyễn Tiến Hưng. Tr 253-5.
  7. ^ Nguyễn Tiến Hưng. Tr 256.
  8. ^ Ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đặc biệt 1975-1985

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]