Park Bo-young

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Park Bo-young
박보영
190429 박보영 (2).jpg
Park Bo-young năm 2019
Sinh12 tháng 2, 1990 (31 tuổi)
Jeungpyeong, Chungcheong Bắc, Hàn Quốc
Quốc tịchHàn Quốc Hàn Quốc
Trường lớpĐại học Đàn Quốc
(Dankook University, Cheonan)
Nghề nghiệpDiễn viên
Ca sĩ
Người mẫu
Năm hoạt động2006–nay
Đại lýBH Entertainment
Chiều cao158 cm (5 ft 2 in)
Cân nặng40 kg (88 lb)
Trang webcafe.daum.net/parkboyoungfd
Park Bo-young
Hangul
박보영
Hanja
朴宝英
Romaja quốc ngữBak Bo-yeong
McCune–ReischauerPak Po-yŏng
Hán-ViệtPhác Bảo Anh

Park Bo-young (Hangul: 박보영, Hanja: 朴宝英, phiên âm Hán-Việt: Phác Bảo Anh), sinh ngày 12 tháng 2 năm 1990 là một nữ diễn viên, ca sĩ kiêm người mẫu nổi tiếng người Hàn Quốc, Bo-young bắt đầu sự nghiệp diễn xuất của mình vào năm 2005 với phim ngắn Equal và được các khán giả biết đến nhiều hơn sau khi tham gia phim điện ảnh Scandal Makers (2008).

Tiểu sử và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bo-young là con thứ hai trong gia đình có ba người con gái của ông Park Wan-soo, một quân nhân chuyên nghiệp trực thuộc Lực lượng Đặc biệt của quân đội Hàn Quốc. Chị gái cô là một giáo viên dạy âm nhạcPiano. Bản thân Bo-Young cũng biết chơi đàn guitarhát. Cô từng thể hiện tài lẻ của mình trong một cảnh phim A Werewolf Boy đồng thời hát Ost "My Prince" của phim.

Bo-young chủ yếu phát triển sự nghiệp diễn xuất ở mảng phim điện ảnh. Hai bộ phim cô tham gia là Scandal Makers (Ông ngoại tuổi ba mươi)A Werewolf Boy (Cậu bé người sói) là hai hiện tượng phòng vé của các năm 2008 và 2012.

Năm 2015, Bo-young đảm nhận vai nữ chính trong bộ phim Oh My Ghost của đài TvN và nhận được rất nhiều sự ủng hộ từ đông đảo các khán giả. Đây là lần đầu tiên cô đảm nhiệm vai chính trong 1 bộ phim truyền hình sau nhiều năm hoạt động ở lĩnh vực phim điện ảnh. Đài TvN khi đó đã phải bỏ ra số tiền lớn nhất từ trước đến nay để có được chữ ký của Park Bo-Young và khiến cho nữ diễn viên trở thành một trong những ngôi sao đắt giá bậc nhất lịch sử nhà đài.[1]

Năm 2017, Park Bo-young trở lại màn ảnh nhỏ bằng vai chính trong phim Strong Woman Do Bong Soon của đài JTBC. Tập 8 với chỉ số rating đạt 9.603 trên toàn quốc và 10.261 tính riêng ở khu vực Seoul (theo Nielsen Korea), đã phá vỡ kỉ lục rating ở mảng phim truyền hình ngắn tập của đài JTBC.[2]

Với ngoại hình thấp, dáng người nhỏ bé cùng gương mặt thanh tú, trẻ trung, Park Bo-young được công chúng mệnh danh là "Biểu tượng đáng yêu" của Hàn Quốc. Mặc dù luôn được truyền thông cũng như người hâm mộ đánh giá rất cao về nhan sắc, tính cách của cô lại có phần hướng nội và rất khiêm tốn. Park Bo-young từng có tin đồn hẹn hò với nam tài tử Song Joong-ki sau khi cả hai tham gia A Werewolf Boy. Tuy nhiên, cô đã phủ nhận thông tin này và cho biết giữa hai người chỉ có mối quan hệ bạn bè.[3]

Danh sách các phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Thứ hạng Doanh số
(Tải nhạc)
Album
HQ
[4]
2008 "Era of Freedom" (자유시대) Scandal Makers OST
2012 "My Prince" (나의 왕자님) 7
  • HQ: 516,043+[5]
A Werewolf Boy OST
2014 "Boiling Youth" (피끓는 청춘) Hot Young Bloods OST
2015 "Leave" (떠난다) 55 Oh My Ghost OST
2018 "Listen to Me" (내 얘기 좀 들어봐) On Your Wedding Day OST Part 1
"—" denotes releases that did not chart or were not released in that region.

Với vai trò là nghệ sĩ hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Year Title Peak Sales
(Music download)
Album
HQ
[7]
2013 "It's Over"
(Speed feat. Park Bo-young)
43
  • HQ: 117,607+[8]
Superior Speed

Đại sứ và từ thiện[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tổ chức/Sự kiện Ghi chú Chú thích
2009 Bộ Tài chính và Chiến lược, Ban tiêu thụ xổ số Đại sứ quảng bá [9]
Good Downloader Ngôi sao hỗ trợ [10]
2010 Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại Seoul [11]
2011 Liên hoan phim Viễn tưởng Quốc tế Bucheon lần thứ 15 Đại sứ thiện chí [12]
2012 Báo Internet "Campus Today" Phóng viên danh dự [13]
2013 Lễ hội phương tiện thân thiện sinh thái thế giới – thành phố Suwon Đại sứ quốc tế [14]
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA) Đại sứ [15]
2014 Chiến dịch "Love, One More" của Green Umbrella Children Foundation [16]
Lớp học làm phim Toto CJ CGV tại Việt Nam Đại sứ danh dự [17]
Bệnh viện Cảnh sát Quốc gia Hàn Quốc [18]
2015 Lớp học làm phim Toto CJ CGV tại Indonesia [19]
Cục Hải Quan Hàn Quốc Đại sứ [20]
2017 Sự kiện từ thiện tổ chức bởi Think Nature[a] [21]
Dự án viết thư của Sandol Green Umbrella Children [22]
2020 Liên hoan Phim Âm nhạc Quốc tế Jecheon lần thứ 16 Đại sứ danh dự [23]


Danh sách các đề cử và giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Phim được đề cử Kết quả Chú thích
2007
SBS Drama Awards lần thứ 14
Best Young Actress Đức vua và tôi Đoạt giải
2008
Cine21 Awards
New Actress of the Year Scandal Makers Đoạt giải
2009
6th Max Movie Awards
Best New Actress of the Year Đoạt giải
Giải thưởng Nghệ thuật Baeksang lần thứ 45
Best New Actress (Film) Đoạt giải
Most Popular Actress (Film) Đoạt giải
Korea Junior Star Awards lần thứ 2
Grand Prize (Film category) Đoạt giải
Mnet 20's Choice Awards lần thứ 3
HOT Movie Star - Female Đề cử
HOT Boom Up Song - Perhaps That Đề cử
Chunsa Film Art Awards lần thứ 17
Best New Actress Đề cử
Buil Film Awards lần thứ 18
Đề cử
Korean Association of Film Critics Awards lần thứ 29
Đoạt giải
Grand Bell Awards lần thứ 46
Đề cử
Popularity Award Đoạt giải
Korean Culture and Entertainment Awards lần thứ 17
Best New Actress in a Film Đoạt giải
University Film Festival of Korea lần thứ 5
Best New Actress Đoạt giải [24]
Giải thưởng điện ảnh Rồng Xanh lần thứ 30
Đoạt giải [25]
Golden Cinematography Awards lần thứ 32
Đoạt giải
Director's Cut Awards lần thứ 12
Đoạt giải [26]
Andre Kim Best Star Awards lần thứ 4
Female Star Award Không có Đoạt giải
2012
World Savings Day lần thứ 49
Commendation from the Chairman of Finance Không có Đoạt giải
Grand Bell Awards lần thứ 49
Popularity Award Don't Click Đề cử
Pierson Movie Festival lần thứ 4
Best Actress A Werewolf Boy Đoạt giải [27]
2013
Mnet 20's Choice Awards lần thứ 7
20's Movie Star - Female Đoạt giải [28]
Grand Bell Awards lần thứ 50
Popularity Award Đề cử
Korea Jewelry Awards lần thứ 11
Best Jewelry Lady Không có Đoạt giải [29]
2014
Seoul International Youth Film Festival lần thứ 16
Best Young Actress Hot Young Bloods Đề cử [30]
Grand Bell Awards lần thứ 51
Popularity Award Đề cử
Korean Culture and Entertainment Awards lần thứ 22
Excellence Award, Actress in a Film Đoạt giải
2015
Korea World Youth Film Festival lần thứ 15
Most Favorite Actress The Silenced Đoạt giải
Grand Bell Awards lần thứ 52
Popularity Award Đề cử
Giải thưởng điện ảnh Rồng Xanh lần thứ 36
Popular Star Award Đoạt giải
APAN Star Awards lần thứ 4
Excellence Award, Actress in a Miniseries Oh My Ghostess Đoạt giải
2016 4th Annual DramaFever Awards lần thứ 4 Best Actress Đoạt giải [31][32]
Best Kiss với Jo Jung-suk Đề cử
Best Couple với Jo Jung-suk Đề cử
Best Womance với Kim Seul-gie Đề cử
tvN10 Awards lần thứ nhất
Best Chemistry với Kim Seul-gie Đoạt giải
Best Kiss Award với Jo Jung-suk Đề cử
Romantic Comedy Queen Đề cử
InStyle Star Icon
Best Actress (Film) Không có Đoạt giải [33]
8th Style Icon Asia
Style Icon Không có Đề cử
KOPA[b] & Nikon Press Photo Awards lần thứ 5
Most Photogenic Actress Không có Đoạt giải [34]
2017
V Live Awards
Special V Live – V Live Special Thanks Không có Đoạt giải [35]
Baeksang Arts Awards lần thứ 53
Best Actress (TV) Strong Woman Do Bong-soon Đề cử [36]
Seoul International Drama Awards lần thứ 12
Best Actress Đề cử [37]
Outstanding Korean Actress Đoạt giải [38]
The Seoul Award lần thứ nhất
Best Actress Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “6 điều hay ho về ma nữ Park Bo Young của 'Oh My Ghostess'. 
  2. ^ “(2)”. 
  3. ^ “(2)”. 
  4. ^ Gaon Weekly Digital Chart
  5. ^ Cumulative Sales for "My Prince":
  6. ^ “2015년 08월 Download Chart (see #88)”. Gaon Music Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2016. 
  7. ^ Gaon Weekly Digital Chart
  8. ^ Cumulative Sales for "It's Over":
  9. ^ “YouTube”. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2017. 
  10. ^ Kim, Kun-woo (10 tháng 11 năm 2009). “원빈·이민호·박보영 "전 국민 '굿 다운로더' 되길". Naver (bằng tiếng Hàn). Starnews. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2016. 
  11. ^ “Stars Line Up to Support G20 Summit”. The Chosun Ilbo. 22 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015. 
  12. ^ “Pifan 레이디 선정된 것 기쁘고 감사해”. Naver. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2017. 
  13. ^ Lee, Eun-jeong (13 tháng 11 năm 2012). '늑대소년' 박보영 "나도 이제 대학생 기자". Naver (bằng tiếng Hàn). Segye. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2016. 
  14. ^ “Suwon appoints new EcoMobility World Festival Ambassadors”. EcoMobility World Festival 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015. 
  15. ^ “[포토] 코이카 홍보대사 박상원의 바통을 이어받은 박보영”. Naver (bằng tiếng Hàn). Seoul Shinmun. 25 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2021. 
  16. ^ Park, Chan-su (10 tháng 6 năm 2014). “박보영, 빈곤아동 돕기 재능기부”. Naver News (bằng tiếng Hàn). Newsis. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2016. 
  17. ^ Lee, Kyung-nam (12 tháng 6 năm 2014). “Park Bo Young Brings in Huge Crowd in Vietnam During Visit as Honorary Ambassador”. Mwave. enewsWorld. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015. 
  18. ^ Go, Beom-jun (24 tháng 12 năm 2014). “박보영, 경찰병원 명예홍보대사 위촉”. Newsis (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015. 
  19. ^ Yoon, Gi-baek (22 tháng 10 năm 2015). “CJ CGV, 인도네시아 토토의 작업실 영화제 개최… 박보영 동참”. Naver (bằng tiếng Hàn). Sports World. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2016. 
  20. ^ “탤런트 박보영, 관세청 홍보대사로 위촉”. Naver News (bằng tiếng Hàn). Money Today. 21 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2021. 
  21. ^ Jie, Ye-eun (10 tháng 4 năm 2017). “Park Bo-young to support Cambodian orphanage”. Kpop Herald. Herald Corporation. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2017. 
  22. ^ “박보영, 손글씨 재능기부…위기상황 아동 위해”. Naver (bằng tiếng Hàn). Sports Kyunghyang. 12 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2017. 
  23. ^ “박보영X피아니스트 임동혁, JIMFF 홍보대사 위촉..위로 동참 [공식]”. Naver. Star News. 23 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020. 
  24. ^ Garcia, Cathy Rose A. (ngày 1 tháng 12 năm 2009). “Ha Ji-won Wins 1st Best Actress Award”. The Korea Times. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015. 
  25. ^ Lee, Hyo-won (ngày 3 tháng 12 năm 2009). “Closer to Heaven Couple Win Best Acting Nods”. The Korea Times. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015. 
  26. ^ Kim, Lynn (ngày 17 tháng 12 năm 2009). “Winners of Director's CUT Awards 9announced”. 10Asia. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015. 
  27. ^ “Ha Jeong-woo and Park Bo-yeong, The Best Actor and Actress”. Hancinema. Ngày 12 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015. 
  28. ^ Jang, Yoon-won (ngày 19 tháng 7 năm 2013). '20's Choice' 20대가 뽑은 무비스타, 류승룡-박보영 수상”. Nate (bằng tiếng Hàn). Newspim. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2016. 
  29. ^ Choi, Eun-hwa (ngày 15 tháng 4 năm 2015). “Park Bo Young Chosen as Youngest Best Jewelry Lady”. Mwave. enewsWorld. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015. 
  30. ^ “제16회 서울국제청소년영화제 영화·드라마 부문 최고의 여자청소년연기상”. Facebook (bằng tiếng Hàn). Seoul International Youth Film Festival. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  31. ^ “Announcing the winners of the Fourth Annual DramaFever Awards!”. DramaFever. DramaFever. Ngày 28 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2016. 
  32. ^ “Ji Sung, Park Bo-young chosen best Korean TV actors”. Yonhap News. Yonhap News Agency. Ngày 28 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2016. 
  33. ^ Hong, Se-Young (ngày 22 tháng 2 năm 2016). “강동원·유재석·박보영·박나래, 핫★ 어벤져스”. Naver (bằng tiếng Hàn). Sports Donga. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2016. 
  34. ^ Han, Yoon-jong (ngày 23 tháng 5 năm 2016). “박보영, '여신 미모 뽐내며'. Naver (bằng tiếng Hàn). Segye. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2016. 
  35. ^ “2017 GLOBAL V LIVE TOP 10”. Naver V Live. Naver. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2017. 
  36. ^ “[공식] 53회 백상 심사표 공개..TV 대상 김은숙 5표, 영화 대상 박찬욱 3표”. Naver (bằng tiếng Hàn). Ilgan Sports. Ngày 4 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2017. 
  37. ^ “박보검 출격에 박보영 2관왕? SDA2017 궁금한 이유(종합)”. Naver (bằng tiếng Hàn). Star News. Ngày 17 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2017. 
  38. ^ “[서울드라마어워즈] '한류여자연기상' 박보영 "상이 부끄럽지 않은 배우되겠다". Naver (bằng tiếng Hàn). Xports News. Ngày 7 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2017. 
  1. ^ Park Bo-young held an autograph session on April 15, 2017 in Seoul to support an orphanage in Cambodia. It was hosted by Think Nature, a cosmetic brand that Park endorses. All proceeds from the event were donated to support children in Cambodia.
  2. ^ Korea Online Press Photographers Association

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]