Piece by Piece (album của Kelly Clarkson)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Piece by Piece
A five-faceted kaleidoscopic image of a blonde woman against a bright background; below, the wordmarks "Kelly Clarkson" and "Piece by Piece" are printed in stylized stencil typefaces.
Bìa phiên bản chuẩn. Bìa phiên bản cao cấp cũng có kiểu thiết kế hình vạn hoa tương tự, nhưng sử dụng một hình ảnh khác của Clarkson.[1]
Album phòng thu của Kelly Clarkson
Phát hành27 tháng 2, 2015 (2015-02-27)
Thu âm2013–14
Thể loại
Thời lượng50:31
Hãng đĩa
Sản xuất
Kelly Clarkson
Wrapped in Red2013
  • Piece by Piece
  • (2015)
Piece by Piece Remixed
(2016)Piece by Piece Remixed2016
Bìa khác
A white cover hot-stamped with the word-marks "Kelly Clarkson" and "Piece by Piece" along with hexagonal shapes at the bottom
Bìa box set được in dập nóng trên lá thạch bản, có chứa một CD của album, 17 miếng ghép lời bài hát, một mã ẩn để nhận vé xem chuyến lưu diễn, và năm bản kĩ thuật số của đĩa đơn mở đường và 4 bốn đĩa đơn quảng bá cho album;[2] bìa này cũng được dùng cho phiên bản 2 đĩa CD phát hành ở Nhật Bản.[3]
Đĩa đơn từ Piece by Piece
  1. "Heartbeat Song"
    Phát hành: 12 tháng 1, 2015 (2015-01-12)
  2. "Invincible"
    Phát hành: 18 tháng 5 năm 2015
  3. "Piece by Piece"
    Phát hành: 9 tháng 11 năm 2015

Piece by Piecealbum phòng thu thứ bảy của nữ ca sĩ người Mĩ Kelly Clarkson. Album được phát hành vào ngày 27 tháng 2 năm 2015 thông qua hãng RCA Records. Là sự tiếp nối album Giáng sinh đầu tiên của Clarkson, Wrapped in Red (phát hành năm 2013); Piece by Piece là album phòng thu cuối cùng của cô được phát hành trong hợp đồng thu âm với hãng RCA sau khi giành chiến thắng trong chương trình truyền hình thực tế American Idol vào năm 2002.

Piece by Piece chứng kiến sự tái hợp của Clarkson với những người thường xuyên cộng tác với cô, bao gồm: Greg Kurstin, Jesse Shatkin, Jason Halbert, Eric Olson và Chris DeStefano. Việc cô mang thai đứa con đầu lòng đã gây khó khăn cho cô trong lúc cố gắng viết thêm năm bài hát mới cho album. Do đó, cô thu thập chất liệu từ những người viết nhạc như Sia, Matthew Koma, MoZella, Bonnie McKee, David Jost, ca sĩ trưởng nhóm Semi Precious Weapons Justin Tranter, và thành viên cũ của Cobra Starship Ryland Blackinton, cùng với một vài người khác. Lấy cảm hứng từ quá trình sản xuất dàn hợp xướng trong Wrapped in Red, Clarkson mong muốn tất cả bài hát trong album mang âm hưởng như trong một album nhạc phim, lấy ý tưởng từ nhạc phim của hai bộ phim điện ảnh Cruel Intentions (1999) và Love Actually (2003), đồng thời ủy thác việc sắp xếp dàn nhạc cho Joseph Trapanese. Album được minh họa bằng bản thu âm chủ đề với nội dung về câu chuyện của một cá nhân, được ghép bằng nhiều mảnh ghép có chủ đề khác nhau: sự đau khổ trong tình yêu, những rắc rối của bản thân, hòa bình và sự trao quyền lực. Âm nhạc của Piece by Piece bao gồm electropop, orchestral popelectronic dance music, đánh dấu một bước chuyển mình khỏi những âm thanh pop rock, vốn chi phối hầu hết các album trước đó của cô. John Legend cũng được mời tham gia hợp tác trong album.

Piece by Piece nhận được phản hồi tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc; họ tán dương khả năng xử lý giọng hát của Clarkson. Các chỉ trích chủ yếu xoay xung quanh vấn đề sản xuất của album, cùng với việc sắp xếp chỉ quá tập trung vào những giai điệu mid-tempo. Về thương mại, đây là album thứ ba của cô ra mắt tại vị trí quán quân bảng xếp hạng US Billboard 200 với doanh số đạt 97.000 bản trong tuần đầu phát hành. Đĩa đơn mở đường cho album, "Hearbeat Song", đã lọt vào top 40 bảng xếp hạng US Billboard Hot 100. Đĩa đơn thứ hai, "Invincible" phát hành vào ngày 18 tháng 5 năm 2015; trong khi bài hát có tựa đề trùng với tên album ra mắt ở vị trí thứ 8 trên Hot 100 sau màn trình diễn ca khúc của Clarkson trong mùa thứ 15 của chương trình American Idol. Chuyến lưu diễn hỗ trợ cho album, Piece by Piece Tour, khởi động vào ngày 11 tháng 7 năm 2015. Vào ngày 7 tháng 12 năm 2015, Piece by Piece nhận được đề cử cho Giải Grammy cho Album giọng pop xuất sắc nhất tại Giải Grammy lần thứ 58. Với lần đề cử thứ 4 ở hạng mục này, Clarkson phá kỷ lục cho nghệ sĩ có nhiều đề cử nhất mà trước đó cô từng nắm giữ cùng với Madonna, P!nk, Sarah McLachlanJustin Timberlake. Đĩa đơn mở đường cho album, "Heartbeat Song", cũng nhận được đề cử Giải Grammy cho Trình diễn đơn ca pop xuất sắc nhất. Ngày 4 tháng 3 năm 2016, RCA phát hành Piece by Piece Remixed, trong đó bao gồm các bản phối lại của 10 ca khúc trong album.[4]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Piece by Piece được phát hành lần đầu vào ngày 27 tháng 2 năm 2015 tại khu vực Châu ÂuChâu Đại dương bởi RCA Records thông qua công ty mẹ Sony Music Entertainment.[5] Vào ngày 3 tháng 3 năm 2015, album được phát hành tại châu Mĩ bởi RCA và hãng 19 Recordings.[1][6] Cũng vào ngày hôm đó, một phiên bản giới hạn phát hành dưới định dạng box set được phát hành, bao gồm một phiên bản cao cấp của album và 17 mảnh ghép ghi lời bài hát được chứa trong một hộp hình nổi 3 chiều được gắn tem tương ứng với mỗi bài hát.[7] Một mã đặt trước vé cho chuyến lưu diễn hỗ trợ album cũng được ẩn trong mỗi box set.[7] Hai bản thu âm LP của Piece by Piece sẽ tiếp nối CD và phát hành vào ngày 24 tháng 3 năm 2015.[8] Để kỷ niệm một năm ngày phát hành album, RCA phát hành phiên bản cao cấp ở dạng kỹ thuật số của Piece by Piece vào ngày 4 tháng 3 năm 2016. Phiên bản có bao gồm "phiên bản Idol" của ca khúc trùng tên với album.[9]

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ngày 23 tháng 2 năm 2015 đến ngày 27 tháng 2 năm 2015, RCA ra mắt liên tiếp các bài hát "Invincible", "Piece by Piece", "Run Run Run", "Take You High", và "Someone" như các đĩa đơn quảng bá[10] Clarkson bình luận về chiến dịch ra mắt: "Tôi không thể nhớ ra được ai đã nảy ra kế hoạch này, nhưng đây là một ý tưởng thông minh. Album là một tổng thể, và cũng là một thế giới riêng biệt; nên việc có vài cách xây dựng dự đoán của mọi người về album là rất hay. Điều này sẽ tốt khi họ được nghe một phần nhỏ của một bản thu âm lớn, và sau đó họ có thể đánh giá rằng album này không chỉ được tạo nên bởi một đĩa đơn."[10] Từ ngày 26 tháng 2 năm 2015 đến ngày 2 tháng 3 năm 2015, RCA, The Hershey CompanyViacom Media Networks tiến hành chiến dịch ra mắt các bài hát "Let Your Tears Fall", "Tightrope", "War Paint", "Dance with Me", và "Good Goes the Bye" trên kênh âm nhạc của Viacom MTV, VH1, và CMT.[11]

Vào đêm trước ngày phát hành, Piece by Piece được giới thiệu trong buổi tiệc ra mắt album tại iHeartRadio Theater ở thành phố New York, một phần của bữa tiệc này được truyền hình trực tiếp trên tất cả các trạm phát thanh hot adult contemporarycontemporary hit radio của iHeartRadio xuyên khắp Hoa Kỳ.[12] Clarkson cũng đồng thời biểu diễn "Heartbeat Song" trên các chương trình truyền hình trực tiếp, và ra mắt bài hát trong chương trình The Graham Norton Show vào ngày 20 tháng 2 năm 2015,[13] và trong chương trình Loose WomenThe Tonight Show Starring Jimmy Fallon vào ngày 2 tháng 3 năm 2015,[14][15] và trong Good Morning America vào ngày 3 tháng 3 năm 2015.[16] Trong màn xuất hiện trong chương trình Good Morning America, Clarkson thông báo về chuyến lưu diễn đầu tiên kéo dài 38 ngày của cô để hỗ trợ cho album, mang tên Piece by Piece Tour. Chuyến lưu diễn bắt đầu tại Hershey, Pennsylvania vào ngày 11 tháng 7 năm 2015.[17]

Các đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

"Heartbeat Song", đĩa đơn mở đường cho Piece by Piece, ra mắt vào ngày 12 tháng 1 năm 2015.[18] Nhận được nhiều phản hồi tích cực trong lần phát hành đầu tiên, các nhà phê bình âm nhạc mô tả ca khúc như một lễ hội ăn mừng sự trở lại của Clarkson trong nền âm nhạc đại chúng.[10][19][20] "Heartbeat Song" lọt vào Top 40 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100, đồng thời cũng lọt vào Top 40 trên bảng xếp hạng của 7 quốc gia, trong đó có một vị trí trong top 10 của bảng xếp hạng Official UK Singles Chart.[21][22] Clarkson cũng thông báo kế hoạch phát hành "Invincible" thành đĩa đơn thứ hai từ album, cũng như dự định thực hiện các bản phối lại các bài hát "Take You High" và "Dance with Me" theo thể loại dance.[23][24] RCA phát hành "Invincible" thành đĩa đơn thứ hai từ album vào ngày 18 tháng 5 năm 2015.[23][25] Ca khúc chủ đề, "Piece by Piece", được phát hành thành đĩa đơn thứ ba từ album trên hệ thống đài phát thanh hot adult contemporary vào ngày 9 tháng 11 năm 2015.[26]

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Điểm trung bình
Nguồn Đánh giá
AnyDecentMusic? {{{ADM}}}
Metacritic 63/100[27]
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AllMusic 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[28]
Billboard 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[29]
The Guardian 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[30]
Idolator 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[31]
New York Daily News 2/5 saoStar full.svgStar empty.svgStar empty.svgStar empty.svg[32]
Newsday B[33]
The Observer 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[34]
PopMatters 7/10 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svgStar empty.svg[35]
Rolling Stone 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[36]
Slant Magazine 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[37]

Thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi phát hành tại Hoa Kỳ, giới quan sát dự báo album sẽ đạt doanh số ít nhất là 90.000 bản trong tuần đầu phát hành.[38] Ra mắt với 83.000 bản là album truyền thống, Piece by Piece mở màn tại vị trí quán quân bảng xếp hạng US Billboard 200 với tổng doanh số đạt 97.000 bản.[39] Đây là album đầu tiên của Clarkson đạt vị trí quán quân bảng xếp hạng Billboard 200 trong vòng 6 năm trở lại đây, kể từ sau All I Ever Wanted (2009); và cũng là album thứ ba trên tổng số.[39] Tuần thứ hai trên bảng xếp hạng, album tụt xuống vị trí #12 với doanh số đạt 32.000 bản; trở thành album có bước tụt khỏi vị trí quán quân Billboard 200 lớn nhất kể từ sau bước tụt từ vị trí #1 xuống #19 của album 1000 Forms of Fear vào tháng 8 năm 2014.[40] Tính đến cuối tháng 4 năm 2015, album đã bán ra 153.000 bản tại Mỹ.[41] Một năm sau ngày phát hành, album quay trở lại top 10 của bảng xếp hạng, nhảy từ vị trí 120 lên vị trí thứ 6 với 44.000 đơn vị và 19.000 bản bán ra. Đây là lần đầu tiên album nằm trong top 10 kể từ sau khi ra mắt ở vị trí quán quân vào ngày 21 tháng 3 năm 2015, nhờ màn trình diễn đầy cảm xúc của Clarkson trong mùa thứ 15 của American Idol. Với việc nhảy 114 bậc trên bảng xếp hạng, Piece by Piece là album có bước nhảy dài nhất lên top 10 của Billboard 200 trong vòng 5 năm.[42]

Trên toàn cầu, album ra mắt trong top 10 của các bảng xếp hạng ARIA Albums Chart, IRMA Artist Albums Chart và trong top 20 của các bảng xếp hạng Dutch Mega Album Top 100Official New Zealand Albums Chart.[43] Tại Vương quốc Anh, album xuất hiện ở vị trí thứ 6 trên bảng xếp hạng Official UK Albums Chart với doanh số đạt hơn 14.000 bản, trở thành album thứ năm và cũng là đầu tiên sau Stronger (2011) lọt vào top 10 của bảng xếp hạng.[44][45]

Danh sách và thứ tự bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Piece by Piece – Phiên bản chuẩn[5][46]
STT Tên bài hátSáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Heartbeat Song"  
3:18
2. "Invincible"  
  • Shatkin
  • Steve Mostynb]
  • Oakb
3:58
3. "Someone"  Matthew Koma
  • Kurstin
  • Halbert[a]
3:39
4. "Take You High"  Shatkin 4:20
5. "Piece by Piece"  
Kurstin 4:17
6. "Run Run Run" (hợp tác với John Legend)Halbert 4:32
7. "I Had a Dream"  
  • Clarkson
  • Kurstin
Kurstin 3:58
8. "Let Your Tears Fall"  
  • Furler
  • Kurstin
Kurstin 3:55
9. "Tightrope"  
  • Clarkson
  • Kurstin
Kurstin 3:32
10. "War Paint"  
Halbert 3:44
11. "Dance with Me"  Dan RockettKurstin 4:20
12. "Nostalgic"  Halbert 3:37
13. "Good Goes the Bye"  
  • Halbert
  • Eric Olson
3:21
Tổng thời lượng:
50:31
Chú thích
  • ^[a] chỉ người sản xuất giọng hát.
  • ^[b] chỉ người hỗ trợ sản xuất.

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách gồm khu vực, ngày phát hành, định dạng, nhãn hiệu, phiên bản, mã catalog và nguồn
Khu vực Ngày phát hành Định dạng Nhãn hiệu Phiên bản Mã catalog Nguồn
Australia 27 tháng 2, 2015 (2015-02-27) Sony Music Cao cấp 88875070862
[48]
châu Âu Chuẩn 88875070852
[5]
châu Âu Cao cấp 88875070862
[48]
New Zealand
châu Á 2 tháng 3, 2015 (2015-03-02)
[71]
Đan Mạch
Pháp
Hy Lạp
Hungary
Na Uy
Tây Ban Nha
Vương quốc Anh RCA
Canada 3 tháng 3, 2015 (2015-03-03) Sony Music Chuẩn 88875070852
[6]
Canada Cao cấp 88875070862
[1]
Ý
Nhật Bản Sony Music Japan
Mĩ La-tinh Sony Music
Bồ Đào Nha
Hoa Kỳ
Chuẩn 88875070852
[6]
Cao cấp 88875070862
[1]
Box set Phiên bản giới hạn Không có
[2]
Brazil 10 tháng 3, 2015 (2015-03-10) CD Sony Music Cao cấp 88875070862
[72]
Hoa Kỳ 24 tháng 3, 2015 (2015-03-24) LP
  • RCA
  • 19
Chuẩn 88875070861
[8]
Nhật Bản 25 tháng 3, 2015 (2015-03-25) CD Sony Music Japan phiên bản tiếng Nhật SICP-4400
[49]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Piece by Piece (Deluxe Edition) is set to be released on ngày 3 tháng 3 năm 2015 in these regions:
  2. ^ a ă “Piece By Piece (Limited edition box set) – Album by Kelly Clarkson”. Sony Music Entertainment. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2015. 
  3. ^ “Piece By Piece: Deluxe Edition [CD+?????????]<?????>” (bằng tiếng Japanese). Japan: Tower Records. 31 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2015. 
  4. ^ Menyes, Carolyn. “Kelly Clarkson Releases 'Piece by Piece' Remix Album Featuring 'Idol' Song [STREAM]”. Music Times. Music Times, LLC. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016. 
  5. ^ a ă â “Piece by Piece – Album von Kelly Clarkson” (bằng tiếng Đức). Germany: Amazon.com. Ngày 27 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ a ă â Piece by Piece được ấn định phát hành vào ngày 3 tháng 3 năm 2015 tại các quốc gia và khu vực sau:
  7. ^ a ă “Kelly Clarkson 'Piece By Piece' Pre-Order Launch!”. RCA Records. Sony Music Entertainment. Ngày 26 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2015. 
  8. ^ a ă “Piece by Piece (Vinyl) – Album by Kelly Clarkson”. United States: Amazon.com. Ngày 24 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2015. 
  9. ^ “Grammy Award winner Kelly Clarkson releases "Piece By Piece (Idol Version)" (Thông cáo báo chí). New York: RCA Records. Ngày 29 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  10. ^ a ă â Lipshutz, Jason (ngày 2 tháng 3 năm 2015). “Kelly Clarkson Q&A: The Pop Superstar on 'Piece By Piece,' Recording While Pregnant & Bringing a Crib on Her Tour Bus”. Billboard (Prometheus Global Media). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2015. 
  11. ^ “Grammy Award Winner Kelly Clarkson Exclusively Premieres New Music from Piece by Piece on "MTV / VH1 / CMT First" Presented by Reese's”. Business Wire (Thông cáo báo chí). Hershey, Pennsylvania/New York City: Berkshire Hathaway. Ngày 27 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  12. ^ “Watch:Kelly Clarkson's iHeartRadio Album Release Party”. iHeartRadio. iHeartMedia, Inc. Ngày 26 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  13. ^ “The Graham Norton Show, Series 16 Episode 19 of 22”. The Graham Norton Show. BBC. Ngày 19 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015.  Bản mẫu:Restricted access
  14. ^ “Kelly Clarkson performs 'Heartbeat Song'. Loose Women. ITV. Ngày 2 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  15. ^ “Kelly Clarkson: Heartbeat Song”. The Tonight Show Starring Jimmy Fallon. NBCUniversal. Ngày 2 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  16. ^ Stern, Bradley (ngày 3 tháng 3 năm 2015). “Kelly Clarkson Performs 'Heartbeat Song' And "Since U Been Gone" On 'Good Morning America': Watch”. Idolator. SpinMedia. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  17. ^ “Grammy® Award winner Kelly Clarkson announces her 2015 Piece By Piece Tour” (Thông cáo báo chí). New York City. PR Newswire. Ngày 3 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  18. ^ Carley, Brennan (ngày 12 tháng 1 năm 2015). “Kelly Clarkson Pours Out Her 'Heartbeat Song'. Spin. SpinMedia. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2015. 
  19. ^ “Spin Singles Mix: Waxahatchee Breathes 'Air,' Kelly Clarkson Sings 'Heartbeat Song,' and More”. Spin. SpinMedia. Ngày 14 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2015. 
  20. ^ Feeney, Nolan (ngày 12 tháng 1 năm 2015). “Listen to Kelly Clarkson's Bold New Single, 'Heartbeat Song'. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2015. 
  21. ^ “The Billboard Hot 100: ngày 21 tháng 2 năm 2015”. Billboard. Ngày 21 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2015. 
  22. ^ “Ellie Goulding spends fourth week at Number 1 on Official Singles Chart”. UK Singles Chart. Official Charts Company. Ngày 1 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2015. 
  23. ^ a ă Scott, Jason (ngày 19 tháng 2 năm 2015). “Kelly Clarkson's Next Single Is The Sia-Penned 'Invincible'. Popdust.com. Popdust.com, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2015. 
  24. ^ Feeney, Nolan (ngày 27 tháng 2 năm 2015). “Kelly Clarkson: I Will Never Tell My Daughter About From Justin to Kelly. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  25. ^ “Radio & Records: Going For Adds: Hot AC”. Radio & Records. 18 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2015. 
  26. ^ “Hot/Modern/AC Future Releases”. All Access Media Group. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2015. 
  27. ^ 'Piece By Piece' reviews”. Metacritic. CBS Interactive. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  28. ^ Erlewine, Stephen Thomas. “Piece by Piece – Kelly Clarkson”. AllMusic. All Media Network. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  29. ^ Cox, Jamieson (ngày 2 tháng 3 năm 2015). “Album Review: Kelly Clarkson's 'Piece by Piece' Doubles Down on Songs That Put Her Voice First”. Billboard (Prometheus Global Media). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2015. 
  30. ^ Sullivan, Caroline (ngày 26 tháng 2 năm 2015). “Kelly Clarkson: Piece By Piece review – one of pop’s most forceful voices”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  31. ^ Riggs, Jonathan (ngày 3 tháng 3 năm 2015). “Kelly Clarkson's 'Piece By Piece': Album Review”. Idolator. SpinMedia. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  32. ^ Farber, Jim (ngày 3 tháng 3 năm 2015). “Kelly Clarkson's 'Piece By Piece' review: New album is weighed down by overbearing production”. Daily News. New York: Daily News, L.P. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  33. ^ Gamboa, Glenn (ngày 2 tháng 3 năm 2015). 'Piece by Piece' review: A calmer Kelly Clarkson”. Newsday. Cablevision. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  34. ^ Cragg, Michael (ngày 1 tháng 3 năm 2015). “Kelly Clarkson: Piece By Piece review – laser-guided, heartfelt pop”. The Observer. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  35. ^ McGuire, Colin (ngày 2 tháng 3 năm 2015). “Kelly Clarkson: Piece By Piece”. PopMatters. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  36. ^ Arnold, Chuck (ngày 3 tháng 3 năm 2015). “Kelly Clarkson's New Album: 'Piece by Piece'. Rolling Stone. Wenner Media. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  37. ^ Camp, Alexa (ngày 25 tháng 2 năm 2015). “Kelly Clarkson: Piece by Piece”. Slant Magazine. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015. 
  38. ^ Caulfield, Keith (ngày 4 tháng 3 năm 2015). “Kelly Clarkson's 'Piece By Piece' Poised for Big Chart Debut”. Billboard (Prometheus Global Media). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  39. ^ a ă Caulfield, Keith (ngày 11 tháng 3 năm 2015). “Kelly Clarkson Claims Her Third No. 1 Album on Billboard 200 Chart”. Billboard (Prometheus Global Media). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  40. ^ Caulfield, Keith (ngày 18 tháng 3 năm 2015). 'Empire,' Madonna and Luke Bryan Debut in Top Three on Billboard 200”. billboard.com (bằng tiếng Anh). Prometheus Global Media. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015. 
  41. ^ Trust, Gary (ngày 27 tháng 4 năm 2015). “Chart Highlights: Kelly Clarkson Crowns Dance Club Songs With 'Heartbeat Song'. billboard.com (bằng tiếng Anh). Prometheus Global Media. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2015. 
  42. ^ Caulfield, Keith (ngày 3 tháng 6 năm 2016). “The 1975 Earns First No.1 Album on Billboard 200 Chart”. billboard.com (bằng tiếng Anh). Prometheus Global Media. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2016. 
  43. ^ “Kelly Clarkson – Piece by Piece (Album)”. Hung Medien. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  44. ^ Copsey, Rob (ngày 8 tháng 3 năm 2015). “Noel Gallagher's High Flying Birds claim fastest-selling album of 2015 so far”. UK Albums Chart. Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2015. 
  45. ^ Jones, Alan (ngày 9 tháng 3 năm 2015). “Official Charts Analysis: Years & Years score first No.1 with 100,955 sales”. Music Week. Intent Media. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2015.  (cần đăng ký mua)
  46. ^ Piece By Piece (booklet). Kelly Clarkson. 19 Recordings Limited under exclusive license to RCA Records. 2015. 88875070852. 
  47. ^ Piece By Piece (Deluxe Edition) (booklet). Kelly Clarkson. 19 Recordings Limited under exclusive license to RCA Records. 2015. 88875070862. 
  48. ^ a ă â Piece by Piece (Phiên bản cao cấp) được ấn định phát hành vào ngày 27 tháng 2 năm 2015 tại các quốc gia và khu vực sau:
  49. ^ a ă “ピース・バイ・ピース – のアルバム ケリー・クラークソン” (bằng tiếng Nhật). Japan: Amazon.com. Ngày 25 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2015. 
  50. ^ "Kelly Clarkson – Piece by Piece". Australiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015.
  51. ^ "Kelly Clarkson - Piece by Piece" (bằng tiếng Đức). Austriancharts.at. Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
  52. ^ "Kelly Clarkson – Piece by Piece" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015.
  53. ^ "Kelly Clarkson – Piece by Piece" (bằng tiếng Pháp). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015.
  54. ^ "Kelly Clarkson Album & Song Chart History" Billboard Canadian Albums Chart cho Kelly Clarkson. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
  55. ^ "Kelly Clarkson – Piece by Piece". Dutchcharts.nl. Hung Medien. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015.
  56. ^ "Kelly Clarkson – Piece by Piece". Lescharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015.
  57. ^ "Top 100 Longplay". Charts.de (bằng tiếng Đức). Media Control. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2015.
  58. ^ "GFK Chart-Track". Chart-Track.co.uk. GFK Chart-Track. IRMA. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015.
  59. ^ 16 tháng 3 năm 2015/ "Oricon Top 50 Albums" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015.
  60. ^ "South Korea GAON Albums Chart". On the page, select "2015" and then "2015.03.01~2015.03.07" to obtain the corresponding chart. Korean Charts. GAON. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015.
  61. ^ "Kelly Clarkson – Piece by Piece". Charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015.
  62. ^ "Kelly Clarkson – Piece by Piece". Spanishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015.
  63. ^ 8 tháng 3 năm 2015 "ngày 8 tháng 3 năm 2015 Top 40 Scottish Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2015.
  64. ^ "Kelly Clarkson – Piece by Piece". Swedishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2015.
  65. ^ "Kelly Clarkson – Piece by Piece". Swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
  66. ^ "Kelly Clarkson | Artist | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2015.
  67. ^ "Kelly Clarkson Album & Song Chart History" Billboard 200 cho Kelly Clarkson. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
  68. ^ "Album & Song Chart History" Billboard Digital Albums cho Kelly Clarkson. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2015.
  69. ^ "Tên không phù hợp Album Sales Kelly Clarkson Album & Song Chart History" Billboard Top Album Sales cho Kelly Clarkson. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2015.
  70. ^ “2015 Year-End Charts – Billboard 200 Albums”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2016.  Bản mẫu:Yêu cầu đăng ký
  71. ^ Piece by Piece (Phiên bản cao cấp) được ấn định phát hành vào ngày 2 tháng 3 năm 2015 tại các quốc gia và khu vực sau:
  72. ^ “Piece by Piece (Edição de luxo) – Album por Kelly Clarkson”. Livraria Saraiva (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2015. 

Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Billboard 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Hits Daily Double 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Idolator 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Idolator 2” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Spin 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “The New York Times 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “USA Today 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “USA Today 2” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “USA Today 3” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Ryan Seacrest 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “VH1 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “VH1 2” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “VH1 3” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “VH1 4” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “VH1 5” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Jam Bands 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “A.V. Club 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “ABC News 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “New York Post 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “The Wall Street Journal 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “ASCAP 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “HitFix 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Time Magazine 3” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Popdust.com 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Digital Spy 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Entertainment Tonight 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “The Boston Globe 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.
Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “The A.V. Club 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Lỗi chú thích: Thẻ <ref> có tên “Popjustice 1” được định nghĩa trong <references> không được đoạn văn bản trên sử dụng.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]