Siêu cường tiềm năng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Các quốc gia ngày nay hiện đang hoặc có tiềm năng để trở thành một siêu cường trong thế kỷ 21.
  Hoa Kỳ (hiện đang là siêu cường)
  Brasil
  Nga

Siêu cường tiềm năng là một quốc gia gần như đã trở thành một siêu cường (có sức mạnh gần đạt tới mức siêu cường) hoặc có tiềm năng để trở thành một siêu cường và được dự đoán sẽ trở thành một siêu cường trong thế kỷ 21. Trong quá khứ đã từng có nhiều dự đoán về siêu cường, tuy nhiên chúng thường không chính xác.[1][2] Các quốc gia được coi là siêu cường tiềm năng hiện tại là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc),[3] Ấn Độ,[4] Liên minh châu Âu (EU),[5] Nga,[6]Brazil.[7] Các siêu cường tiềm năng trên (cùng với Hoa Kỳ) chiếm 68% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) danh nghĩa, 62,4% tổng sản phẩm quốc nội theo sức mua tương đương (PPP) và hơn 50% dân số toàn cầu.[8]

Những tiên đoán trong quá khứ[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật Bản từng được dự đoán sẽ trở thành siêu cường trong thế kỷ 21.[1] Mặc dù hiện tại, nền kinh tế Nhật Bản lớn thứ ba toàn cầu, song do sự suy thoái trầm trọng trong thập niên 1990 nên Nhật Bản đã không còn lấy lại được vị thế như trước đây được nữa.

Vào những năm của thập niên 1980, nhiều chính trị gia và nhà kinh tế học đã dự đoán rằng Nhật Bản sẽ trở thành một siêu cường trong tương lai vì thời ấy, Nhật Bản có dân số lớn, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cao và tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh.[1][9] Hiện nay, Nhật Bản tuy là nền kinh tế lớn thứ ba toàn cầu (tính theo GDP trên danh nghĩa), quốc gia này đã trải qua một giai đoạn suy thoái kinh tế kéo dài suốt nhiều năm bắt đầu vào đầu thập niên 1990 (gọi là Thập niên mất mát), cùng với một dân số đang già đi khiến cho nhật bản hiện nay tuy vẫn còn giữ được một số tiềm năng của siêu cường như: Kinh tế mạnh, quân sự mạnh, công nghệ phát triển, song nước này không bao giờ có thể lấy lại được vị thế và tầm ảnh hưởng như trước đây được nữa.

Sự tranh luận về Liên minh châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế các nước thành viên Liên minh châu Âu, nếu tính gộp, là nền kinh tế thứ nhì thế giới khiến EU có được sức mạnh chính trị đáng kể. Một số người có thể tin rằng EU cũng là một siêu cường[10] - bởi vì họ có đủ đặc điểm của một siêu cường nếu tính tổng số lượng các nước thành viên – và ngược lại có nhiều người không đồng tình với quan điểm đó.[11]

Một số người có thể cho rằng Liên minh châu Âu là một siêu cường, nếu coi nó là một thực thể[10]. EU hiện có GDP và thị trường tiêu thụ lớn nhì thế giới cũng như có quyền kiểm soát to lớn đối với sự phân phối các nguồn tài nguyên thế giới, tuy vậy vẫn có ý kiến cho rằng Liên minh châu Âu vẫn còn bị chia rẽ quá xa về chính trị và văn hóa để được coi là một thực thể duy nhất, đặc biệt vì hai đòn bẩy quyền lực chính là chính sách đối ngoại và quốc phòng, được thực thi chủ yếu bởi cá nhân từng nước thành viên[cần dẫn nguồn]. Nếu được coi là một thực thể thống nhất, một số người sẽ coi EU là một siêu cường.

Tổng số 28 quốc gia thành viên có những ảnh hưởng văn hóa to lớn trên toàn thế giới, thời trang, nghệ thuật và ẩm thực châu Âu đã trở nên quen thuộc ở mọi ngõ ngách trên thế giới. Pháp và Anh Quốc cũng là những thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc với quyền phủ quyết. Về mặt giáo dục, 8 trong số 15 vị trí trong bản danh sách của PISA là các nước thành viên Liên minh châu Âu và tất cả các quốc gia phương Tây trong tổ chức này đều đứng trong tốp 30[12]. Nếu tính sức mạnh sẽ có được theo kế hoạch mở rộng, châu Âu sẽ sở hữu bốn hạm đội tàu sân bay cũng như hơn nửa tá các tàu sân bay hộ tống cỡ nhỏ hơn và nhiều tàu chiến trên biển cho tới năm 2015[cần dẫn nguồn].

Ấn Độ và Trung Quốc tuy thống nhất về mặt chính trị nhưng vẫn còn thiếu sự phát triển về xã hội cần thiết. Liên minh châu Âu hiện có một số thành viên là những cường quốc kinh tế hiện nay - Anh Quốc, Đức, Pháp và Ý.

EU thậm chí còn có thể đã phát triển phạm vi ảnh hưởng giữa các quốc gia gần gũi về địa lý, tương tự như trường hợp của Hoa KỳLiên bang Xô viết thời Chiến tranh Lạnh[13]. Ví dụ, các quốc gia thành viên khối EFTA bên ngoài Liên minh, và các thuộc địa cũ, đặc biệt tại châu Phi. EU đóng vai trò một bên trung gian hòa giải [1], họ đã đảo ngược sự cân bằng quyền lực truyền thống, theo nghĩa các quốc gia khác thường không muốn đối đầu với họ, mà muốn gia nhập cùng với họ.

Một số nhà bình luận cho rằng, đối với Liên minh châu Âu sự hội nhập chính trị hoàn toàn là không cần thiết để có được ảnh hưởng mang tầm vóc quốc tế, rằng sự yếu kém hiện nay chính là sức mạnh thật sự của họ (as of its low profile diplomacy and the opsetion of the rule of law[14]) và rằng EU đại diện cho một phương thức mới và có tiềm năng thành công hơn so với những phương thức truyền thống [2]. Tuy nhiên, sự không chắc chắn về tính hiệu quả của một tầm ảnh hưởng như vậy sẽ tương đương với sự không chắc chắn về sự hội nhập chính trị của một siêu cường (ví dụ Hoa Kỳ) khi so sánh.

Đa số những cuộc tranh luận dường như cho rằng EU là một "thực thể riêng".

Cơ cấu Liên minh châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng 12 năm 2004, The World Factbook, một ấn bản của Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) đã có thêm mục dành riêng cho Liên minh châu Âu[15]. Theo CIA, sở dĩ Liên minh châu Âu được thêm vào vì EU "tiếp tục tự mang lại cho mình những đặc điểm của một nhà nước". Lý lẽ của họ đã được giải thích trong đoạn tuyên bố ngắn ở lời mở đầu như sau:

Tiến trình phát triển của Liên minh châu Âu (EU) từ một thỏa thuận kinh tế khu vực với sau nước thành viên năm 1951 tới một tổ chức siêu quốc gia như hiện nay với 25 nước thành viên trên khắp lục địa châu Âu là một hiện tượng chưa từng xảy ra trong lịch sử. Các liên minh triều đình với mục tiêu củng cố lãnh thổ từng là tiêu chuẩn từ lâu ở châu Âu... Mặc dù Liên minh châu Âu không phải là liên bang theo đúng nghĩa chặt chẽ của nó, nhưng tổ chức này vượt xa các hiệp hội tự do thương mại khác như ASEAN, NAFTA, hay Mercosur, và nó mang nhiều thuộc tính của các quốc gia độc lập, với lá cờ, quốc ca, ngày thành lập và đồng tiền tệ riêng cũng như một chính sách đối ngoại và an ninh chung đang ở giai đoạn thành hình. Trong tương lai, nhiều thuộc tính quốc gia của Liên minh châu Âu sẽ còn được mở rộng thêm. Vì thế, việc đưa những thông tin căn bản của EU với tư cách là một thực thể mới và riêng biệt vào trong The World Factbook là xác đáng. Tuy nhiên... những thông tin về thực thể này vẫn được đặt sau các quốc gia thông thường khác. - CIA factbook[15]

Những siêu cường đang nổi lên[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Những tòa nhà chọc trời ở Thượng Hải, biểu tượng của thần kỳ kinh tế Trung Quốc

Flag of the People's Republic of China.svg Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thường được coi là một siêu cường đang nổi lên[16]. Chưa cần tính số liệu kinh tế của Hồng KôngMacao, Trung Quốc hiện là nền kinh tế đứng thứ hai thế giới tính theo GDP và nền kinh tế đứng thứ nhất thế giới tính theo PPP và hiện được coi là một siêu cường đang nổi lên nhờ dân số đông đảo và mức độ tăng trưởng kinh tế rất nhanh với tỷ lệ bình quân hàng năm là 6.9%[17]. Trung Quốc có một diện tích lãnh thổ rộng lớn và sở hữu lực lượng vũ trang lớn nhất thế giới cùng kho vũ khí hạt nhân, Trung Quốc hiện là một trong năm thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc.

Cộng hoà Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Flag of India.svg Cộng hòa Ấn Độ hiện là nền kinh tế đứng hàng thứ ba thế giới về PPP (theo sức mua tương đương) và đứng hàng thứ bảy theo GDP danh nghĩa (tỷ giá trao đổi thị trường), với mức tăng trưởng hàng năm 8.1%[18]. Nước này được coi là một siêu cường tương lai bởi họ sở hữu một lực lượng lao động có tay nghề (đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụcông nghệ thông tin), một dân số trẻ, và là nền kinh tế lớn có tốc độ phát triển cao thứ hai thế giới[19][20]. Ấn Độ có quân đội được huấn luyện tốt cùng lực lượng không quânhải quân từ lâu được coi là có trình độ tác chiến tốt[21]. Với các định chế dân chủ của mình, Ấn Độ tuy là nước có lịch sử phát triển chậm chạp nhưng ổn định[22].

Liên bang Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Flag of Russia.svg Liên bang Nga là quốc gia có nền kinh tế đứng thứ 6 thế giới theo sức mua tương đương.Trước kia, Liên Xô đã đạt vị thế siêu cường của thế giới. Tuy nhiên do sự sụp đổ năm 1991 và sự khó khăn của nước Nga cuối thế kỷ XX đã khiến cho nước Nga mới thậm chí mất hẳn cả vị thế cường quốc cho đến đầu những năm 2000, dưới thời của Vladimir PutinDmitry Medvedev, kinh tế Nga đã khôi phục lại vị trí một nước có nền kinh tế phát triển. Mặc dù bị ảnh hưởng nặng nề bao vây cấm vận từ các chính sách thù địch từ phía Hoa KỳLiên minh châu Âu, nhưng nền kinh tế Nga vẫn duy trì trong top 10 nền kinh tế thế giới theo cả GDPPPP, thậm chí giúp nước Nga tự chủ một số mặt hàng để đáp ứng nhu cầu trong nước khi bị cấm vận. Mặc dù nền kinh tế chưa thực sự xứng đáng với vị thế siêu cường. Điều đáng nói ở đây là sức mạnh quân sự và ảnh hưởng quốc tế của Nga, Lực lượng vũ trang Liên bang Nga hiện tại là quân đội có sức mạnh được xem là ngang bằng với Quân đội Hoa Kỳ, với tổ chức quân đội là chuẩn mực của một số quốc gia trên thế giới. Nga cũng sở hữu kho vũ khí hủy diệt hàng loạt lớn nhất thế giới, là một siêu cường dầu mỏ, Nga cũng là một trong những nước hiếm hoi đi đầu về công nghiệp vũ trụ, có hệ thống định vị riêng GLONASS và sở hữu một lượng tri thức khoa học khổng lồ. Nga có tiếng nói quan trọng không kém siêu cường hiện tại là Hoa Kỳ trong các vần đề quốc tế như tại Syria, cuộc chiến chống khủng bố, vấn đề biển Đông giữa Việt NamTrung Quốc hay tình hình tại Ukraine. Vị thế của Nga ngày càng được khẳng định. Vì vậy, có thể thấy rõ Nga có khả năng lớn nhất trở thành siêu cường mới của thế giới.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Fareed Zakaria (2008). The Post-American World (bằng tiếng Anh). W. W. Norton and Company. tr. 210. ISBN 978-0-393-06235-9. 
  2. ^ Leika Kihara (17 tháng 8 năm 2012). “Japan eyes end to decades long deflation” (bằng tiếng Anh). Reuters. Truy cập 7 tháng 9 năm 2012. 
  3. ^ “This is the relationship that will define global politics” (bằng tiếng Anh). The Guardian. 15 tháng 6 năm 2006. Truy cập 22 tháng 9 năm 2015. 
  4. ^ Robyn Meredith (2007). The Elephant and the Dragon: The Rise of India and China and What it Means for All of Us. W.W Norton and Company (bằng tiếng Anh). ISBN 978-0-393-33193-6.
  5. ^ Robert J. Guttman. “Europe in the Future” (bằng tiếng Anh). Lynne Rienner Publishers. 
  6. ^ Steven Rosefielde (2005). Russia in the 21st Century: The Prodigal Superpower (bằng tiếng Anh). Cambridge University Press. 
  7. ^ Kwang Ho Chun (2013). The BRICs Superpower Challenge: Foreign and Security Policy Analysis (bằng tiếng Anh). Ashgate. 
  8. ^ “World Economy Outlook: April 2015” (bằng tiếng Anh). Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Truy cập 22 tháng 9 năm 2015. 
  9. ^ “Japan: From Superrich to Superpower” (bằng tiếng Anh). Time. Truy cập 22 tháng 9 năm 2015. 
  10. ^ a ă Reid, TR (2004). The United States Of Europe: The New Superpower and the End of American Supremacy. Touchstone.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “European_superpower” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  11. ^ Yale Globa “Yale Global”. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2006. 
  12. ^ “PISA study rankings”. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2006. 
  13. ^ “The EU as a Regional Normative Hegemon” (PDF). Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2006. 
  14. ^ “The Project for a New European Century”. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2006. 
  15. ^ a ă “Inclusion of EU in the CIA factbook”. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2006. 
  16. ^ “Encyclopædia Britannica on China as an emerging superpower”.  Đã bỏ qua văn bản “accessdate” (trợ giúp)
  17. ^ New York Times - Chinese Economy Grows to 4th Largest in the World
  18. ^ IBEF Economy Indicators
  19. ^ New Scientist Special Report on India
  20. ^ The Australian Regional Overview - Asia
  21. ^ Global Security India - Navy
  22. ^ The Trailing Edge India as a future superpower by Peter Drucker