Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tổ chức Cấm
Vũ khí Hóa học
OPCW logo.gif
OPCW logo
CWC Participation.svg
Các nước thành viên của OPCW (xanh)
Thành lập Ngày 29 tháng 4 năm 1997[1]
Trụ sở chính Den Haag, Hà Lan
52°05′28″B 4°16′59″Đ / 52,091241°B 4,283193°Đ / 52.091241; 4.283193Tọa độ: 52°05′28″B 4°16′59″Đ / 52,091241°B 4,283193°Đ / 52.091241; 4.283193
Thành viên
192 quốc gia thành viên
Tất cả các quốc gia tham gia Công ước vũ khí hóa học (CWC) tự động là thành viên.
4 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc không là thành viên: Ai Cập, Israel, Bắc Triều Tiên và Nam Sudan.
Ngôn ngữ chính thức
Tiếng Anh, Pháp, Nga, Trung Hoa, Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập
Thổ Nhĩ Kỳ Ahmet Üzümcü[2]
Các cơ quan chính thức
Hội nghị các quốc gia thành viên
Hội đồng điều hành
Ban thư ký kỹ thuật
Ngân sách
€71 triệu/năm (2012)[3]
Nhân viên
Khoảng chừng 500[3]
Trang web opcw.org

Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học (tiếng Anh: Organisation for the Prohibition of Chemical Weapons, viết tắt là OPCW) là một tổ chức tự trị liên chính phủ, cơ sở chính nằm ở Den Haag, Hà Lan. Nó được thành lập để thực thi việc theo dõi các nước trong việc tuân hành Công ước 1997 về vũ khí hóa học, mà cấm việc sử dụng cũng như đòi hỏi phá hủy chúng. Tổng giám đốc hiện thời là nhà ngoại giao người Thổ Ahmet Üzümcü.
Giải Nobel Hòa bình năm 2013 được trao cho tổ chức này và Công ước, mà qua đó nó được thành lập vào năm 1997,[4] bởi vì họ, theo lời người phát giải, "đã định nghĩa vũ khí hóa học là điều cấm kỵ theo luật quốc tế. Việc sử dụng vũ khí hóa học tại GhoutaSyria, đã nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng gia nỗ lực để hủy bỏ những vũ khí đó."[4][5][6][7]

Tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức được tài trợ do các thành viên đóng góp, tương tự như tiếu chuẩn của Liên hiệp quốc. Và như vậy Hoa Kỳ là nước tài trợ nhiều nhất với 22 %. Tiếp theo là Nhật Bản với khoảng 19,5 % và Đức khoảng 10 %. Ngân sách mỗi năm tổng cộng khoảng 60 triệu Euro.[3]

Hội nghị của các quốc gia thành viên vào năm 2007

Liên hệ với Liên hiệp quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học không phải là một cơ quan thuộc Liên hiệp quốc, nhưng cả hai làm việc chung với nhau về chính sách và những vấn đề thực tiễn. Vào ngày 7 tháng 9 năm 2000 OPCW và Liên hiệp quốc ký kết một thỏa ước làm việc chung đề ra phương thức để phối hợp các hoạt động hai bên với nhau.[8] Các thanh sát viên đi làm việc với thẻ du hành của Liên hiệp quốc, trong đó có giải thích nhiệm vụ, đặc quyền và quyền bất khả xâm phạm.[9]

Trụ sở chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở chính của OPCW

Den Haag được chọn làm chỗ hoạt động của tổ chức sau khi đánh bại ViênGenève.[10] Tổng hành dinh của OPCW được vẽ kiểu bởi kiến trúc sư Hoa Kỳ Gerhard Kallmann của hãng Kallmann McKinnell & Wood là một tòa nhà tám từng, hình bán cầu.[11] Có một phòng tưởng niệm các nạn nhân ở đằng sau tòa nhà, mở cửa cho công chúng vào tham quan.[12]

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả 192 nước mà đã ký vào Công ước về vũ khí hóa học tự động trở thành thành viên của tổ chức OPCW.[13] Không phải là thành viên gồm có Israel, tuy đã ký nhưng chưa thông qua Công ước, và Ai Cập, Bắc Triều Tiên và Nam Sudan, những nước mà không ký hay không tán thành Công ước.[14] Syria là nước tham gia gần đây nhất theo khuôn khổ hủy bỏ vũ khí hóa học tại Syria.

Lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Ahmet Üzümcü, Tổng giám đốc của OPCW

Tổ chức được điều khiển bởi một tổng giám đốc, mà được chỉ định trực tiếp bởi hội nghị. Danh sách các tổng giám đốc:

Quốc gia Tên Bắt đầu nhiệm kỳ
Brasil Brasil José Bustani ngày 13 tháng 5 năm 1997[15]
 Argentina Rogelio Pfirter ngày 25 tháng 7 năm 2002[16]
 Thổ Nhĩ Kỳ Ahmet Üzümcü ngày 25 tháng 7 năm 2010[3]

Giải Nobel Hòa bình 2013[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 10 năm 2013, Ủy ban Nobel Na Uy đã loan báo trao Giải Nobel Hòa bình năm 2013 cho "Tổ chức Cấm Vũ khí Hóa học" về Công việc phá hủy các Vũ khí Hóa học của tổ chức này, nhất là việc phá hủy Vũ khí Hóa học ở Syria hiện nay.[4][5][6][7]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Chemical Weapons - Organisation for the Prohibition of Chemical Weapons (OPCW)”. United Nations Office for Disarmament Affairs. Truy cập 11 tháng 10 năm 2013. 
  2. ^ Oliver Meier and Daniel Horner (Tháng 11 năm 2009). “OPCW Chooses New Director-General”. Arms Control Association. 
  3. ^ a ă â b “Organization for the Prohibition of Chemical Weapons (OPCW)”. Nuclear Threat Initiative. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2013. 
  4. ^ a ă â Cowell, Alan (ngày 11 tháng 10 năm 2013). “Chemical Weapons Watchdog Wins Nobel Peace Prize”. New York Times. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2013. 
  5. ^ a ă “Chemicals weapons watchdog OPCW wins Nobel peace prize”. Times of India. Ngày 11 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2013. 
  6. ^ a ă “Global chemical weapons watchdog wins 2013 Nobel Peace Prize”. Fox News. Ngày 11 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2013. 
  7. ^ a ă “Official press release from Nobel prize Committee”. Nobel Prize Organization. Ngày 11 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2013. 
  8. ^ General Assembly Liên hợp quốc Phiên họp 55 Resolution A/RES/55/283 Được truy cập ngày ngày 21 tháng 8 năm 2007.
  9. ^ OPCW, The Legal Texts TMC Asser Press, p336
  10. ^ “An Expat's View: Peter Kaiser”. city of Den Haag. Ngày 8 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2010. 
  11. ^ Hevesi, Dennis (ngày 24 tháng 6 năm 2012). “Gerhard Kallmann, Architect, Is Dead at 97”. New York Times. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012. 
  12. ^ “Secretary-General calls chemical weapons memorial ‘a symbol of suffering and hope’”. United Nations. Ngày 9 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2011. 
  13. ^ “OPCW Member States”. Opcw.org. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2013. 
  14. ^ “Non-Member States”. Opcw.org. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2013. 
  15. ^ A Stanič (2004). “Bustani v. Organisation for the Prohibition of Chemical Weapons”. The American Journal of International Law 98 (4): 810. JSTOR 3216704. 
  16. ^ “Speech of Dr. Rogelio Pfirter, Director-General of the OPCW ngày 16 tháng 9 năm 2008”. Netherlands Institute for International Relations. Ngày 22 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]