Chủ tịch Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Chủ tịch Đại hội đồng
Liên Hợp Quốc
Emblem of the United Nations.svg
Biểu tượng Liên Hợp Quốc
Volkan Bozkır April 2016 (26358127551) (cropped).jpg
Đương nhiệm
Thổ Nhĩ Kỳ Volkan Bozkır

từ 18 tháng 9 năm 2018
Bổ nhiệm bởiĐại hội đồng Liên Hợp Quốc
Nhiệm kỳ1 năm
Người đầu tiên giữ chứcBỉ Paul-Henri Spaak
Thành lập1946
WebsiteDanh sách Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc

Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc là chức vụ do các nhóm khu vực đề cử luân phiên do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bầu theo một khóa họp. Chủ tịch là người chủ trì phiên họp đại hội đồng.

Bầu cử[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các quốc gia có đại diện làm Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, tới phiên họp thứ 59 2014-2015

Phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thường diễn ra vào tháng 9 hàng năm, các phiên họp đặc biệt hoặc khẩn cấp đặc biệt đều do chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc chủ trì.

Các Chủ tịch được bầu chọn luân phiên theo các nhóm khu vực được phân chia theo địa lý: châu Phi, Đông Âu, châu Á, Mỹ La tinh và Caribbean, Tây Âu và các nước khác.

Vì chức vụ quan trọng trên phạm vi toàn cầu, các quốc gia lớn nhất, mạnh nhất chưa bao giờ giữ nhiệm kỳ chủ tịch, chẳng hạn như: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Pháp, Nhật Bản, Nga, Liên hiệp Anh, Hoa Kỳ. Đặc biệt theo phong tục chức chủ tịch không do các nước ủy viên thường trực Liên Hợp Quốc nắm giữ.

Quốc gia có 2 lần làm chủ tịch Đại hội đồng là Argentina, còn lại đều có 1 lần. Chức vụ không được tính trong các phiên họp đặc biệt hoặc trường hợp khẩn cấp.

Danh sách chủ tịch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm bầu Chân dung Chủ tịch[1] Thành viên LHQ Nhóm Phiên họp
1946 không khung Paul-Henri Spaak  Bỉ Tây Âu lần thứ nhất
1947 không khung Osvaldo Aranha  Brazil Mỹ Latin lần thứ 2
đặc biệt lần thứ 1
1948 không khung José Arce  Argentina Mỹ Latin đặc biệt lần thứ 2
1948 không khung Herbert Vere Evatt  Úc Khối Thịnh vượng chung lần thứ 3
1949 không khung Carlos P. Romulo  Philippines Đông Âu và châu Á lần thứ 4
1950 không khung Nasrollah Entezam  Iran Đông Âu và châu Á lần thứ 5
1951 Luis Padilla Nervo  Mexico Mỹ Latin lần thứ 6
1952 không khung Lester B. Pearson  Canada Khối Thịnh vượng chung lần thứ 7
1953 không khung Vijaya Lakshmi Pandit  Ấn Độ Khối Thịnh vượng chung lần thứ 8, Chủ tịch là phụ nữ đầu tiên
1954 không khung Eelco van Kleffens  Hà Lan Tây Âu lần thứ 9
1955 không khung José Maza Fernández  Chile Mỹ Latin lần thứ 10
1956 Rudecindo Ortega  Chile Mỹ Latin khẩn cấp đặc biệt lần thứ 1
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 2
1956 không khung Wan Waithayakon  Thái Lan Đông Âu và châu Á lần thứ 11
1957 không khung Leslie Munro  New Zealand Khối Thịnh vượng chung lần thứ 12
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 3
1958 không khung Charles Malik  Lebanon Trung Đông lần thứ 13
1959 không khung Víctor Andrés Belaúnde  Peru Mỹ Latin lần thứ 14
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 4
1960 không khung Frederick Boland  Ireland Tây Âu lần thứ 15
đặc biệt lần thứ 3
1961 không khung Mongi Slim  Tunisia Trung Đông lần thứ 16
1962 không khung|143x143px Muhammad Zafarullah Khan  Pakistan Khối Thịnh vượng chung lần thứ 17
đặc biệt lần thứ 4
1963 Carlos Sosa Rodríguez  Venezuela Mỹ Latin lần thứ 18
1964 Alex Quaison-Sackey  Ghana Khối Thịnh vượng chung lần thứ 19
1965 không khung Amintore Fanfani  Ý Tây Âu lần thứ 20
1966 Abdul Rahman Pazhwak  Afghanistan Châu Á lần thứ 21
đặc biệt lần thứ 5
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 5
1967 không khung Corneliu Mănescu  Romania Đông Âu lần thứ 22
1968 Emilio Arenales Catalán  Guatemala Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 23
1969 không khung Angie Brooks  Liberia Châu Phi lần thứ 24
1970 Edvard Hambro  Na Uy Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 25
1971 không khung Adam Malik  Indonesia Châu Á lần thứ 26
1972 Stanisław Trepczyński  Ba Lan Đông Âu lần thứ 27
1973 Leopoldo Benites  Ecuador Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 28
đặc biệt lần thứ 6
1974 không khung Abdelaziz Bouteflika  Algérie Châu Phi lần thứ 29
đặc biệt lần thứ 7
1975 không khung Gaston Thorn  Luxembourg Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 30
1976 Hamilton Shirley Amerasinghe  Sri Lanka Châu Á lần thứ 31
1977 Lazar Mojsov  Nam Tư Đông Âu lần thứ 32
đặc biệt lần thứ 8
đặc biệt lần thứ 9
đặc biệt lần thứ 10
1978 Indalecio Liévano  Colombia Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 33
1979 không khung Salim Ahmed Salim  Cộng hòa Thống nhất Tanzania Châu Phi lần thứ 34
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 6
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 7
đặc biệt lần thứ 11
1980 Rüdiger von Wechmar  Cộng hòa Liên bang Đức Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 35
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 8
1981 Ismat T. Kittani  Iraq Châu Á lần thứ 36
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 7—tiếp diễn
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 9
đặc biệt lần thứ 12
1982 không khung Imre Hollai  Hungary Đông Âu lần thứ 37
1983 Jorge Illueca  Panama Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 38
1984 Paul J. F. Lusaka  Zambia Châu Phi lần thứ 39
1985 Jaime de Piniés  Tây Ban Nha Tây Âu và còn lại lần thứ 40
đặc biệt lần thứ 13
1986 Humayun Rashid Choudhury  Bangladesh Châu Á lần thứ 41
đặc biệt lần thứ 14
1987 không khung Peter Florin  Cộng hòa Dân chủ Đức Đông Âu lần thứ 42
đặc biệt lần thứ 15
1988 không khung Dante Caputo  Argentina Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 43
1989 Joseph Nanven Garba  Nigeria Châu Phi lần thứ 44
đặc biệt lần thứ 16
đặc biệt lần thứ 17
đặc biệt lần thứ 18
1990 không khung Guido de Marco  Malta Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 45
1991 Samir Shihabi  Ả Rập Xê Út Châu Á lần thứ 46
1992 Stoyan Ganev  Bulgaria Đông Âu lần thứ 47
1993 không khung Rudy Insanally  Guyana Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 48
1994 không khung Amara Essy  Bờ Biển Ngà Châu Phi lần thứ 49
1995 không khung Diogo de Freitas do Amaral Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 50
1996 Razali Ismail  Malaysia Châu Á lần thứ 51
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 10
đặc biệt lần thứ 19
1997 không khung Hennadiy Udovenko  Ukraina Đông Âu lần thứ 52
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 10—tiếp diễn
đặc biệt lần thứ 20
1998 không khung Didier Opertti  Uruguay Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 53
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 10—tiếp diễn
đặc biệt lần thứ 21
1999 không khung Theo-Ben Gurirab  Namibia Châu Phi lần thứ 54
đặc biệt lần thứ 22
đặc biệt lần thứ 23
đặc biệt lần thứ 24
2000 không khung Harri Holkeri Phần Lan Phần Lan Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 55
khẩn cấp đặc biệt lần thứ 10-tiếp diễn
đặc biệt lần thứ 25
đặc biệt lần thứ 26
2001 không khung Han Seung-soo  Hàn Quốc Châu Á lần thứ 56
2002 không khung Jan Kavan  Cộng hòa Séc Đông Âu lần thứ 57
2003 không khung Julian Hunte  Saint Lucia Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 58
2004 không khung Jean Ping  Gabon Châu Phi lần thứ 59
2005 không khung Jan Eliasson Thụy Điển Thụy Điển Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 60
2006 không khung Haya Rashed Al-Khalifa  Bahrain Châu Á lần thứ 61
2007 không khung Srgjan Kerim  Cộng hòa Macedonia Đông Âu lần thứ 62
2008 không khung Miguel d'Escoto Brockmann  Nicaragua Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 63
2009 không khung Ali Treki  Libya Châu Phi lần thứ 64
2010 không khung Joseph Deiss  Thụy Sĩ Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 65
2011 không khung Nassir Al-Nasser[2]  Qatar Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 66
2012 không khung Vuk Jeremić  Serbia Đông Âu lần thứ 67
2013 không khung John William Ashe  Antigua và Barbuda Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 68
2014 không khung Sam Kutesa  Uganda Châu Phi lần thứ 69
2015 Mogens-Lykketoft.jpg Mogens Lykketoft  Đan Mạch Tây Âu và các quốc gia khác lần thứ 70
2016 không khung Peter Thomson  Fiji Châu Á-Thái Bình Dương lần thứ 71
2017 không khung Miroslav Lajčák  Slovakia Đông Âu lần thứ 72
2018 không khung María Fernanda Espinosa  Ecuador Mỹ Latin và Caribbean lần thứ 73
2019 không khung Tijjani Muhammad-Bande  Nigeria Châu Phi lần thứ 74
2020 không khung Volkan Bozkır  Thổ Nhĩ Kỳ Tây Âu và các quốc gia khác Lần thứ 75

Nhóm khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Trước 1966[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1966 các nhóm khu vực đề cử được chia thành 5 nhóm gồm:

  • Khối thịnh vượng chung (COS)
  • Đông Âu và châu Á (EAS)
  • Mỹ Latin (LAS)
  • Trung Đông (MES)
  • Tây Âu (WES)

Sau 1966[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1966 các nhóm khu vực đề cử được chia thành 5 nhóm gồm:

Đông Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm Đông Âu năm 2012, với số lần quốc gia từng là thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, với các cựu quốc gia của chính thể

Nhóm khu vực Đông Âu được thành lập năm 1961 là một trong 5 nhóm khu vực biểu quyết tại Liên Hợp Quốc. Nhóm bao gồm các quốc gia Đông Âu và các nước thuộc Caucasus, tạo thành Khối phía Đông. châu Âu được chia làm 2 nhóm Đông Âu và nhóm Tây Âu và các quốc gia khác.

Các thành viên cũ
Các thành viên hiện tại

Tây Âu và các quốc gia khác[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên nhóm Tây Âu và các quốc gia khác

Nhóm Tây Âu và các quốc gia khác còn được gọi WEOG. Nhóm được thành lập năm 1961. Hầu hết các quốc gia trong nhóm đều thuộc Tây Âu, các quốc gia khác ở các khu vực địa lý khác nhau trên thế giới. Israel là quốc gia châu Á nhưng lại là thành viên của nhóm Tây Âu do các quốc gia Ả Rập phản đối việc tham gia nhóm. Canada, Úc, New Zealand, là các quốc gia gắn liền lịch sử chính trị và văn hóa với các nước Tây Âu nên được xếp vào nhóm. Thổ Nhĩ Kỳ tham gia cả hai nhóm châu Á và Tây Âu nhưng với mục đích bầu cử thì thuộc Tây Âu. Trong nhóm Hoa Kỳ là quốc gia quan sát (không tham gia bỏ phiếu nhưng có quyền đề cử).

Thành viên của nhóm hiện tại gồm 28 quốc gia, cộng 1 quan sát. Quan sát viên là Hoa Kỳ tự nguyện không tham gia với tư cách thành viên, tham dự các phiên họp với tư cách quan sát viên. Tuy nhiên cũng có thể được coi là 1 thành viên vì việc đề cử ứng viên cho cuộc bầu cử tại Liên Hợp Quốc.

Thành viên thường trực của châu Âu
Thành viên thường trực ngoài châu Âu
Quan sát viên

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]