Thủy thủ Sao Thủy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thủy thủ Sao Thủy
Nhân vật trong Sailor Moon
Thuythusaothuy.png
Tạo hình của Thủy thủ Sao Thủy (Sailor Mercury) trong phim Sailor Moon Crystal
Xuất hiện lần đầu Sailor Moon chapter 2: "Ami – Sailor Mercury"
Tạo ra bởi Naoko Takeuchi
Lý lịch
Bí danh Ami Mizuno
Sailor Mercury
Dark Mercury (PGSM)
Princess Mercury
Nhánh Shadow Galactica (manga)
Sức mạnh và khả năng Sản sinh vả điều khiển nước.
Tên tiếng Anh
Name Amy Mizuno
Amy Anderson (DIC)

Sailor Mercury (セーラーマーキュリー Sērā Mākyurī) là một nhân vật trong bộ truyện Sailor Moon được viết bởi Naoko Takeuchi là hoá thân khác của Ami Mizuno (水野 亜美 Mizuno Ami). Ami là một học sinh trung học, là thành viên của nhóm Chiến binh Thủy thủ, cô chiến đấu để bảo vệ Hệ mặt trời khỏi bọn ác quỷ.

Ami là thành viên đầu tiên được tìm thấy bởi Sailor Moon, quyền năng của cô được bắt nguồn từ nước. Với bộ óc sắc bén, khả năng phân tích, cô là bộ não của cả nhóm. Ami là Chiến binh của nước và trí tuệ (水 と 知性 の 戦士) hoặc Chiến binh của kiến thức (知 の 戦士), dưới sự giám hộ của hành tinh của nước (nghĩa đen của từ "Mercury" trong Nhật Bản).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ami sinh ngày 10 tháng 9, thuộc chòm sao Xử Nữ. Cô là một cô gái nhút nhát, không dễ kết bạn. Cô thích ngồi một mình đọc sách. Những người bạn cùng lớp với Ami nghĩ rằng cô là một người kiêu ngạo và ít khi tiếp xúc với cô, cho đến khi Usagi bắt đầu làm bạn với Ami. Cô học rất chăm chỉ và thường đứng đầu trong kì thi quốc gia. Các bạn cùng lớp cô cho rằng cô là siêu nhân và có chỉ số IQ là 300. Toán học và các môn khoa học là môn yêu thích của cô. Ami có một ước mơ là trở thành bác sĩ giống như mẹ cô. Bình tĩnh và điềm đạm, cô là bộ não của cả nhóm. Những người khác thường dựa vào các kế hoạch và những phân tích của cô. Tuy nhiên, đôi khi họ lại nghĩ rằng cô nên "thư giãn" một chút.

Ami trong đồng phục học sinh dưới nét vẽ của tác giả Naoko Takeuchi

Ami là một người tốt bụng, hiền lành, không thích cãi vã và những việc như làm hại người vô tội. Điều này còn được ghi ra trong tiêu đề của anime 90s tập 122, khi cô đã thuyết phục Sailor NeptuneSailor Uranus không giết Hotaru. Như tất cả các Thủy thủ khác, cô luôn trung thành với Sailor Moon, thậm chí có thể hy sinh tính mạng để bảo vệ công chúa của mình.

Trong live action, Ami ít ngây thơ và tin tưởng vào mọi thứ hơn. Cô là một người đầy mâu thuẫn. Trong phim, mong muốn trở thành bác sĩ là áp lực từ mẹ cô gây ra. Trong phim, có lần Ami đã bị bắt cóc và bị Kunzite tẩy não. Lúc này, cô được gọi là Akumi.

Ami dành phần lớn thời gian cho học tập và chiến đấu trong vai trò Sailor Mercury. Chút thời gian còn lại là cho những sở thích của cô. Ami thích chơi cờ và bơi lội. Cô đều xuất sắc trong cả hai việc này. Ami cũng thích nghe nhạc. Trong Anime, Ami cũng có những tài năng và sở thích khác. Bao gồm cả sáng tác lời bài hát và sửa xe hơi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ami sống với mẹ, mặc dù họ không thân thiết với nhau cho lắm vì sự bận rộn của mẹ Ami - một bác sĩ. Cha của cô - một hoạ sĩ - đã ly hôn với mẹ cô. Ông gửi thiệp sinh nhật cho Ami mỗi năm. Nhưng Ami rất ít khi nhìn thấy bố cô.

Trong Parallel Sailor Moon, Ami đã kết hôn với một người đàn ông và có một đứa con, được gọi là Ami Jr. Ami và chồng đều là bác sĩ, nhận lương thấp và con gái cô cũng là một Chiến binh Thủy thủ.

Các mối quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong season đầu tiên của Anime, Ami và Ryo Urawa có tình cảm với nhau. Nhưng mới đầu Ami đã từ chối, nói rằng cô không có thời gian dành cho một người bạn trai. Hai người cũng đã đi hẹn hò với nhau, nhưng ngay sau đó, Urawa lại rời khỏi Tokyo. Trong tập áp chót của season 1, Urawa đã xuất hiện (một ảo ảnh được tạo ra bởi DD Girls). Cậu không bao giờ được nhắc hoặc đề cập đến trong Series Sailor Moon này một lần nào nữa.

Trong Sailor Moon Sailor Stars, Ami đã bị thu hút bởi một thành viên trong nhóm Three Lights - Taiki Kou. Taiki là một người thông minh và cũng hiểu biết nhiều như Ami. Tuy nhiên, sự tin tưởng của Ami về Sailor Moon lại "đụng độ" với những lời nói đầy lạnh lùng và việc ghét các Chiến binh Thủy thủ của Taiki. Hai người cũng thường "cặp" với nhau trong suốt Season này. Nói là cặp, nhưng thực ra giữa hai người không hề có tí lãng mạn nào.

Trong Senshi / Shitennou, có một bức được vẽ bởi Naoko Takeuchi, có hình Ami được ghép với Zoisite. Cặp đôi này chỉ xuất hiện trong Musicals và trong hai bài hát là Itsuwari no Forevermore và Koi no Dangerous. Hai người cũng xuất hiện nhiều trong các fanfic. Trong Live-action, Ami dường như có đôi chút cảm thấy thương hại cho Nephrite. Bằng chứng là việc Dark Mercury đã đưa một chiếc áo choàng mới cho Nephrite. Sau khi được tái sinh như một con người, Nephrite đã cố gắng tìm một món quà để trả ơn Ami.

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Trong nhạc kịch, Ami được đóng bởi Ayako Morino, Yukiko Miyagawa, Hisano Akamine, Mariya Izawa, Manami Wakayama, Miyabi Matsuura và Momoyo Koyama. Một số vở nhạc kịch có cốt truyện tập trung đến Ami, đặc biệt là có liên quan đến giấc mơ của cô, lòng trung thành của cô với Sailor Moon. Một số ví dụ như: Sailor Moon S - Usagi Ai no Senshi e no Michi, Sailor Moon SuperS - Yume Senshi - Ai - Eien ni... và Shin / Henshin - Super Senshi e no Michi - Last Dracul Jokyoku.

Ami trong nhạc kịch Sailor Moon ít ngây thơ và nhút nhát hơn trong các phiên bản khác. Thậm chí đôi khi cô còn lớn tiếng với Usagi.

Biệt hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sailor Mercury[sửa | sửa mã nguồn]

  • Anime

Trong Anime, Sailor Mercury từng sống ở Thiên Niên Kỷ Bạc, với trách nhiệm là bảo vệ Công chúa Serenity cùng với Sailor Mars, Sailor Jupiter, Sailor Venus. Tất cả bốn hộ vệ đã bị Nữ hoàng Metalia giết trong một vụ tấn công bất ngờ tới mặt trăng của Vương Quốc Bóng Tối. Queen Serenity đã gửi các Senshi tới tương lai để được đầu thai.

Sailor Mercury được tái sinh trên Trái Đất với hoá thân là Ami Mizuno. Quyền năng của cô khi đó chưa được thức tỉnh. Cô là người thứ 3 được thức tỉnh trong số các Senshi, và là người thứ 2 - sau Sailor Moon - được Luna thức tỉnh.

Trong những tập cuối cùng của Season 1, cả nhóm đã phát hiện ra Vương Quốc Bóng Tối được đặt tại điểm D ở Bắc Cực. Đã đến lúc họ phục hồi lại ký ức về cuộc sống trước đây, và ngăn chặn sự tấn công từ Metalia. Tuy nhiên, họ phải đối mặt với 5 Youma cực kì mạnh của Vương Quốc Bóng Tối - DD Girls - trước khi thâm nhập được vào Vương Quốc Bóng Tối. Các DD Girls được giao nhiệm vụ tiêu diệt các Senshi. Sailor Mercury đã bị 3 kẻ trong số 5 DD Girls giết, mặc dù cô đã phá vỡ được viên đá tạo ra ảo ảnh của Youma lãnh đạo nhóm DD Girls.

Chỉ có mình Sailor Moon sống sót trong cuộc chiến, nhưng linh hồn của Sailor Mercury và các Senshi khác đã tập hợp lại, cùng chiến đấu với Sailor Moon trong cuộc chiến chống Super Beryl. Metalia cuối cùng đã bị tiêu diệt, Sailor Moon muốn bản thân cô và mọi người trở về cuộc sống cũ. Pha Lê Bạc đã giúp cô toại nguyện, hồi sinh nhóm thuỷ thủ và Mamoru, đưa họ trở lại Azabu - Juuban, không có ký ức gì về khoảng thời gian làm Sailor Senshi. Chỉ duy Luna và Artemis là nhớ về những ký ức đã xảy ra.

Hoà bình kéo dài không bao lâu, Artemis và Luna buộc phải thức tỉnh các chiến binh - một lần nữa, vì sự xuất hiện của hai kẻ ngoài hành tinh là Ann và Eiru. Sailor Mercury và những người khác đã lấy lại được ký ức, sử dụng được sức mạnh của mình.

Khi Sailor Moon và Sailor Chibi Moon bị mắc kẹt với Fisheye trong trận chiến với Dead Moon, Pegasus đã tiếp thêm sức mạnh cho đội thuỷ thủ, giúp họ đạt được hình thức "Super". Star Power Stick của Sailor Mercury đã được đổi thành Crystal Change Rod, cho phép cô biến từ Ami Mizuno thành Super Sailor Mercury.

  • Manga

Sailor Mercury đã chết cùng các Senshi khác trong trận chiến với Nữ hoàng Metalia. Tuy vậy, cô đã được hồi sinh cùng với các Senshi khác. Khi nhóm Mặt Trăng Đen (Black Moon) xuất hiện, Sailor Mercury đã bị Berthier bắt và giam giữ một thời gian. Quyền năng của Sailor Mercury đã được nâng cấp lên nhờ Neo Queen Serenity. Cô đạt đến hình thức "Super" cùng với các Senshi khác ở gần cuối Infinity Arc (Tương ứng với Season 3 trong Anime).

Trong Dream Arc, cô bị Fisheye tấn công và được cứu bởi Guardian Mercury, người đã trao cho cô Pha lê Sao Thuỷ (Mercury Crystal) để cô có thể trực tiếp biến hình thành Super Sailor Mercury và kêu gọi Mercury Harp (Đàn hạc sao thuỷ).Sau đó, cô xuất hiện trong hình hài là một Princess, cùng với các Senshi khác để cấp cho Sailor Moon sức mạnh của lâu đài của họ, cho phép Sailor Moon biến thành Eternal Sailor Moon. Cô đã trải qua cuộc nâng cấp sức mạnh và trang phục cuối cùng trong Stars Arc. Cuối cùng, Mercury Crystal của cô đã bị đánh cắp bởi Sailor Aluminum Seiren.

Sailor Galaxia đã ném tất cả các pha lê của các Senshi trong Hệ Mặt Trời xuống Galaxy Cauldron, khiến chúng bị tan chảy. Nhưng Sailor Moon đã "khôi phục" lại tất cả những Senshi - những người bạn của cô - đã rơi xuống Cauldron và cho phép họ trở lại cuộc sống trước đây. Trong tương lai, người ta thấy rằng Sailor Mercury vô cùng trung thành với Neo Queen Serenity và King Endymion. Cô ấy bảo vệ Crystal Tokyo cùng với những Senshi khác.

Dark Mercury[sửa | sửa mã nguồn]

Dark Mercury, người cũng đã được gọi bằng biệt danh không chính thức của Darkury hoặc Dark Sailor Mercury ở ngoài bộ phim, là hình thức xấu xa của Sailor Mercury, chỉ xuất hiện trong PGSM. Cô xuất hiện lần đầu tiên trong Act 21, sau khi Sailor Mercury bị bắt cóc và tẩy não bởi Kunzite.

Lúc đầu, cô xuất hiện như người bình thường, nhưng có phần lạnh lùng hơn Ami (các nhân viên sản xuất gọi là Akumi (悪美; nghĩa là Vẻ đẹp tà ác). Nhưng ngay sau đó, cô biến thành Dark Mercury. Cô thay đổi nhiều đến mức khiến cho các Senshi khác cũng cảm thấy sợ hãi.

Cô thường tỏ ra thiếu tôn trọng đối với Kunzite và các Shitennou, thậm chí cả Queen Beryl. Đôi khi cô cũng thể hiện lòng tốt, chẳng hạn như sửa áo choàng của Nephrite.

Dark Mercury trở lại bình thường trong Act 29, sau khi cô nhận ra mình đã làm tổn thương Sailor Moon. Tuy vậy, Ami không có ký ức gì về những việc cô ấy đã làm lúc là Dark Mercury.

Princess Mercury[sửa | sửa mã nguồn]

Sailor Mercury được gọi là Princess Mercury khi ở Thiên Niên Kỷ Bạc. Cô cai trị hành tinh của mình từ lâu đài Mariner.

Mặc dù nhà của cô ở trên Sao Thuỷ, nhưng Sailor Mercury đã có mặt tại buổi lễ, nơi mà cô và các Senshi khác thề sẽ bảo vệ Princess Serenity và phải đối mặt với nữ hoàng Nehellenia lần đầu tiên. Sau đó, cô đã cư trú ở mặt trăng để bảo vệ Princess Serenity. Trong quá khứ, cô đã thấy rằng mình mang sách tới và khích lệ Công Chúa học hỏi. Cô đã chết trong cuộc chiến tranh giữa Trái Đất và Mặt Trăng. Ở hiện tại, cô được tái sinh là Ami Mizuno cho đến khi được Luna thức tỉnh và cùng chiến đấu với các Senshi khác.

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Anime 90s[sửa | sửa mã nguồn]

Sailor Mercury có một bộ đồng phục gần giống với Sailor Moon. Màu sắc chủ đạo của cô là màu xanh dương (đá đính trên vương miện, hoa tai, vòng cổ, hình tròn ở trung tâm nơ, váy, bốt, viền găng tay). Màu nhấn của cô là màu xanh nhạt (nơ). Hoa tai của cô có màu xanh (cô có thể nhấn để bật kính). Cổ áo cô có hai sọc, bốt cao đến đầu gối và có kiểu giống Sailor Moon. Nhưng nó có màu xanh và không gắn hình mặt trăng hay biểu tượng gì.

Sau khi lên phần Super, hoa tai của Sailor Mercury có thêm hai khuyên nhỏ nữa. Vòng cổ có đính một ngôi sao vàng. Cổ áo có một sọc trắng, hình tròn ở trung tâm nơ được đổi thành hình trái tim. Phía dưới miếng đệm vai bình thường là một miếng đệm nhọn, trong suốt.

Sailor Mercury còn có một chiếc máy tính mini, giúp cô quét và phân tích dữ liệu, cũng như để truy cập vào hệ thống máy tính khác. Khi cô nhấn vào khuyên tai của mình, một chiếc kính sẽ hiện ra trước mắt cô, cho phép Sailor Mercury quét hoặc biết thêm thông tin về kẻ thù của mình. Chẳng hạn như điểm yếu.

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục đầu tiên của Sailor Mercury trong manga khá giống với trang phục của cô trong Anime. Tuy vậy, có một vài sự khác biệt như: Cổ áo của cô có ba sọc, cô không có miếng đệm vai và hoa tai của cô luôn có ba chiếc.

Trâm cài áo của cô đã được chuyển từ hình tròn sang hình trái tim khi Sailor Moon lên cấp Super. Sau khi nâng cấp Super, về cơ bản thì toàn bộ trang phục đều giống với Anime, trừ việc ngôi sao trên vòng cổ của cô có đính thêm đá quý ở giữa.

Sau khi nâng cấp lên thành Eternal Sailor Mercury, vòng cổ của cô có hình chữ V và ở nơ phía trước ngực có gắn trâm cài hình ngôi sao năm cánh màu xanh dương đậm. Miếng đệm vai của cô phồng lên, có màu xanh nhạt, đính thêm hai miếng vải ở dưới. Găng tay thì dài đến cánh tay cô. Trong artbook minh hoạ, cô có đeo chiếc vòng ruy băng ở gần cổ tay, đính ngôi sao năm cánh (Gần giống với Sailor Moon), nhưng nó không có mặt trong manga. Thắt lưng của cô gồm có 2 dải ruy băng màu xanh. Một xanh đậm và một xanh nhạt, dài và mỏng. Ở nơi giao nhau của hai loại ruy băng có đính một ngôi sao màu vàng. Nơ của cô có màu xanh nhạt. Váy của cô có hai lớp. Lớp trên là màu xanh và một lớp váy màu xanh sáng phía dưới. Bốt của cô cao đến đầu gối và có màu trắng, viền chữ V lật ngược màu xanh, đính ngôi sao năm cánh màu vàng. Vương miện của cô đính một ngôi sao năm cánh màu xanh dương, hoa tai của cô có màu xanh, hình ngôi sao.

Live action[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục của Sailor Mercury giống trong manga. Ngoại trừ phần màu xanh tối (vòng cổ, cổ áo, viền găng tay ở khuỷu tay, váy, và bốt) được thay bằng màu xanh da trời.

Dark Mercury[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục của Dark Mercury có một số thiết kế khác biệt. Vòng cổ, cổ áo, váy, viền găng tay của cô có màu tối hơn so với trang phục gốc khi cô còn là Sailor Mercury. Nơ của cô thay đổi hoàn toàn. Nó được thiết kế như một chú bướm, có màu xanh đậm, được tỉa nhỏ. Vòng cổ, cổ áo và bốt của cô được trang trí bằng hoa văn màu đen. Nơ sau của Dark Mercury có màu đen và được làm bằng ren. Tay áo của cô cũng được làm bằng ren giống như nơ sau. Nơ trước của cô cũng có một lớp ren đen ở phía sau. Một mặt dây chuyền có hình trái tim màu đen được đính trên vòng cổ, giống như chiếc đai màu đen quanh eo cô. Bông tai của cô có hình trái tim màu đen. Vương miện của Dark Mercury có màu bạc, trang trí màu đen, đính đá màu xanh ở trung tâm. Cô cũng đeo Dark Jewelry Star Bracelet ở tay trái. Màu tóc của cô là màu xanh dương nhưng có điểm thêm bóng đen.

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Musical, trang phục của Sailor Mercury có tới hai phiên bản:

Trong phiên bản đầu tiên, nơ của Sailor Mercury, viền găng tay, vòng cổ và tay áo có màu xanh. Trong khi váy và cổ áo của cô có màu xanh nước biển. Các phiên bản sau, trang phục đã có một lớp váy màu xám, cổ áo, và bốt. Trong khi nơ của cô, viền găng tay, và tay áo có màu xanh nhạt. Chiếc trâm cài gắn liền với nơ phía trước có hình tròn, xung quanh dát vàng với màu chính giữa là xanh. Cô cũng có một vòng tròn đính ở giữa vòng cổ. Hoa tai của cô có hình một vòng tròn. Tất cả trang trí trên trang phục, bao gồm cả sọc áo đều là màu vàng. Phiên bản này không bao giờ xuất hiện lần nữa sau Sailor Moon S - Henshin - Super Henshin e no Michi (Kaiteiban).

Phiên bản thứ hai về cơ bản là giống với phiên bản Super trong Manga và Anime. Nơ trên, nơ sau, viền găng tay có màu xanh sáng. Cổ áo, bốt và vòng cổ có màu thiên thanh. Váy của cô có hai lớp. Lớp trên màu thiên thanh, lớp dưới màu xanh sáng. Các phiên bản sau của trang phục, viền găng tay đổi thành màu thiên thanh thay vì màu xanh nhạt. Vòng cổ của cô được trang trí bằng một ngôi sao năm cánh màu vàng với một vòng tròn màu thiên thanh và biểu tượng Sao Thuỷ ở trung tâm. Trâm cài áo ở nơ có hình trái tim màu xanh, viền vàng. Hoa tai của cô có ba chiếc, màu xanh.

Princess Mercury[sửa | sửa mã nguồn]

Cô mặc một váy đầm xanh dài qua chân, và dải băng đeo cổ được thắt nơ phía sau cổ. Cô mang giày cao gót màu xanh, đeo một sợi dây chuyền và cặp hoa tai xanh. Kí hiệu Sao Thủy luôn hiện diện trước trán cô.

Chiêu thức & Sức mạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Anime 90s[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quyền năng

Mercury Power, Make Up! (Sức mạnh sao thuỷ, biến hình!) - Được sử dụng trong season đầu tiên. Cô dùng chiếc bút (gậy) biến hình để biến thành Sailor Mercury.

Mercury Star Power, Make Up! (Sức mạnh tinh tú sao thuỷ, biến hình!) - Ami dùng Star Power Stick để biến thành Sailor Mercury.

Mercury Crystal Power, Make Up! (Sức mạnh pha lê sao thuỷ, biến hình!) - Ami dùng Crystal Change Rod để biến thành Super Sailor Mercury.

  • Chiêu thức tấn công

- Shabon Spray (Hay còn gọi là Sabão Spray) (Bong bóng nước phun bọt) - Chiêu thức tấn công đầu tiên của Sailor Mercury. Chiêu này sẽ tạo ra một màn sương mù dày đặc, che mắt kẻ thù, riêng các Senshi vẫn có thể nhìn thấy. Đây là một chiêu thức hộ trỡ, không có khả năng làm thương kẻ thù.

- Shabon Spray Freezing (Bóng bóng nước phun bọt băng) - Một chiêu thức mạnh hơn chiêu Shabon Spray. Nó có thể làm bị thương hoặc khiến kẻ thù bị đóng băng. Sử dụng lần đầu tiên trong Sailor Moon R.

- Double Shabon Spray Freezing (Bong bóng nước phun bọt băng đúp) - Mạnh hơn chiêu Shabon Spray Freezing một chút, được sử dụng duy nhất với Giwaku.

- Shine Aqua Illusion (Ảo ảnh ánh sáng nước) - Mercury sẽ tung ra một "vụ nổ nước", có thể tiêu diệt hoặc đóng băng kẻ thù.

- Mercury Aqua Rhapsody (Sao thuỷ! Vũ khúc ngân nga) - Chiêu thức mạnh nhất của Mercury. Cô sẽ chơi một cây đàn lia làm từ nước. Nước từ cây đàn hạc sẽ phun ra và bắn về phía kẻ thù. Cô nhận được khả năng tấn công này trong phần SuperS.

- Mercury Aqua Mirage (Bóng nước ảo ảnh) - Một chiêu thức chỉ xuất hiện trong manga và ngoại truyện " Mối tình đầu của Ami ". Nó bao bọc kẻ thù bằng nước rồi nổ tung. Cuối cùng là kẻ thù bị tiêu diệt.

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quyền năng

- Mercury Power, Make Up - Sailor Mercury dùng bút biến hình để biến thành Sailor Mercury.

- Mercury Star Power, Make Up - Sailor Mercury dùng Star Power Stick để biến thành Sailor Mercury.

- Mercury Planet Power, Make Up - Cô sử dụng sức mạnh từ hành tinh của mình, đã được nâng cấp lên bởi Neo Queen Serenity, giúp cô biến thành Sailor Mercury.

- Mercury Crystal Power, Make Up - Sailor Mercury sử dụng Mercury Crystal để biến thành Super Sailor Mercury.

  • Chiêu thức tấn công

- Mercury Aqua Mist - Một chiêu thức xuất hiện trong bản in lại của manga, tương tự như Shabon Spray trong Anime.

- Hyperspatial Sphere Generate - Đây là chiêu thức mà Sailor Mercury chỉ sử dụng duy nhất một lần trong manga, Act 11, để tránh cho quán Game Crown bị phá huỷ.

- Shine Aqua Illusion - Chiêu thức này khiến cho kẻ thù sẽ bị cuốn đi theo dòng nước.

- Shine Snow Illusion - Tạo ra một cơn bão tuyết thổi bay kẻ thù.

- Mercury Aqua Mirage - Một cuộc tấn công chỉ xuất hiện trong ngoại truyện "Mối tình đầu của Ami".

- Mercury Aqua Rhapsody - Sailor Mercury chơi đàn hạc để "gửi" tới kẻ thù của mình những tia nước mạnh mẽ. Cô sử dụng được chiêu thức này sau khi biến hình bằng Mercury Crystal.

Live action[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quyền năng

- Mercury Power, Make Up! - Được cô sử dụng để biến thành Sailor Mercury.

- Dark Power, Make Up! - Được cô sử dụng để biến thành Dark Mercury.

  • Chiêu thức tấn công

- Mercury Aqua Mist - Chiêu thức đầu tiên của Sailor Mercury. Nó sẽ phun nước vào kẻ thù.

- Shine Aqua Illusion - Một chiêu thức tương tự trong Anime và Manga.

- Mercury Aqua Blizzard - Chiêu thức này sẽ phun ra hàng ngàn băng tuyết, giúp đóng băng kẻ thù.

- Mercury Aqua Cyclone - Một chiêu thức chỉ xuất hiện một lần trong Live Action. Nó tuôn ra một dòng nước mạnh mẽ, tấn công kẻ thù.

- Mercury Aqua Storm - Chiêu thức tấn công đặc biệt của Sailor Mercury khi cô sử dụng Sailor Star Tambourine.

- Unnamed Attack - Sailor Mercury sử dụng một chiêu thức, nhưng nó không được nên tên trên màn hình. Trong đó, cô sử dụng Sailor Star Tambourine để "gửi" đến kẻ thù của mình một năng lượng màu xanh hình ngôi sao.

Dark Mercury[sửa | sửa mã nguồn]

  • Biến đổi

- Dark Power, Make Up! (Sức mạnh đen tối, biến hình!) - Cô sử dụng Dark Jewelry Star Bracelet để biến thành Sailor Mercury.

  • Chiêu thức tấn công

- Dark Sword - Dark Mercury biến một viên nước đá thành thanh kiếm và sử dụng nó để chiến đấu.

Video Games[sửa | sửa mã nguồn]

- Crash Launcher - Sử dụng trong Sailor Moon Arcade Game.

- Shine Aqua Cutter - Sử dụng trong Sailor Moon Arcade Game.

- Mirage Wave - Sử dụng trong Sailor Moon Arcade Game.

- Aqua Ribbon Upper - Được sử dụng trong Sailor Moon dành cho Mega Drive.

- Break Step - Được sử dụng trong Sailor Moon dành cho Mega Drive.

- Water Stream -Được sử dụng trong Sailor Moon S dành cho Super Famicom.

- Reverse Spin Kick - Được sử dụng cho Sailor Moon dành cho 3DO.

- Reverse Break Step - Được sử dụng trong Sailor Moon R dành cho Super Famicom, Sailor Moon S: Jougai Rantou? Shuyaku Soudatsusen?, Sailor Moon SuperS: Zenin Sanka! Shuyaku Soudatsusen.

- Water Bullet - Được sử dụng trong Sailor Moon S: Jougai Rantou? Shuyaku Soudatsusen và Sailor Moon Supers: Zenin Sanka! Shuyaku Soudatsusen.

Thông tin bên lề[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sailor Mercury mang tên của hành tinh của tên trong Hệ Mặt Trời, được đặt theo tên của một vị thần trong thần thoại La Mã là Mercury. Tên tiếng Nhật của hành tinh này là "Suisei" (水星; Sao Thủy). Trong chiêm tinh học Phương Tây, Sao Thuỷ là hành tinh đại diện cho cung hoàng đạo của Ami - Xử Nữ. Ngoài ra, vũ khi của Sailor Mercury là một cây đàn hạc. Đây cũng là một món đồ của thần Hermes trong thần thoại Hy Lạp, tương đương với thần Mercury trong thần thoại La Mã.
  • Ở Nhật Bản, trong số các Sailor Senshi, Mercury là Sailor được nhiều người yêu thích nhất. Dù đôi khi có phải "nhường" vị trí này cho Sailor Chibi Moon vì người xem thường là thiếu nhi. Điều này chủ yếu vì Ami là một cô gái ngoan ngoãn, hiếu học, là hình mẫu tiêu biểu cho trẻ em Nhật. Mặt khác, do thiếu khả năng tấn công trong suốt Season đầu tiên, cô đã bị một số người coi thường, cho là yếu.
  • Thiết kế ban đầu của Sailor Mercury trong Materials Collection, bộ trang phục của cô có áo dài tay, đính ruy băng màu hồng, ngoài ra còn có cả màu xanh và trắng. Nó cũng có nói rằng màu mắt của cô thay đổi từ xanh tối sang màu xanh sáng khi biến hình.
  • Sailor Mercury nhận được hầu hết các loại vũ khí trong Live Action: Water Sword, Mercury Sword, và khi là Dark Mercury, cô có nhận được Dark Sword.
  • Trong Act Zero của Live Action, trước khi Ami phát hiện ra rằng mình là Sailor Mercury, Ami đã tưởng tượng mình là "Sailor A", mặc trang phục giống Sailor V.
  • Trong ngoại truyện " Mối tình đầu của Ami ", Ami được biết là bị dị ứng với thư tình, và mỗi khi cầm nó, cô sẽ lại bị phát ban.
  • Số thành viên của Ami trong Three Lights Fan Club là 25, vì thế, cô là người đầu tiên trong số các Senshi ra nhập Club này.
  • Cô là một trong số hai Senshi trong hệ mặt trời có tên được viết bằng chữ Hán. Một người khác nữa là Minako Aino.
  • Trong Live Action và ngoại truyện "Mối tình đầu của Ami", Ami có đeo kính, mặc dù cô không cận. Thực chất cô đeo chúng là để ra vẻ:v.
  • Trong Act 15 của manga, Ami thể hiện rằng mình cảm nhận được nước, mặc dù cô chưa biến hình.
  • Trong trailer lồng tiếng Anh của DiC, ban đầu Ami được gọi là "Blue".
  • Trong Poster và thiết kế bìa đĩa DVD ban đầu, Dark Mercury có nắm giữ một cây đàn hạc, nhưng nó không bao giờ được sử dụng trong PGSM (thay vào đó, cô sử dụng Dark Sword). Thiết kế của cung đàn đã được sửa đổi và trở thành con dao găm được Zoisite sử dụng.
  • Biệt danh "Akumi" là sự kết hợp của từ chữ Hán "Aku" (悪; tà ác) và "Mi" (美; vẻ đẹp). Tên Akumi là một cách chơi chữ đối với tên thật của Ami (亜美), tương tự trong cả chữ hán và phát âm.
  • Theo "Oshiokiyo" Omake* trên đĩa DVD, Dark Mercury được gọi là Darkury trên phim trường.Darkury - Một cái tên chưa bao giờ xuất hiện trong phim, đã nhanh chóng được các fan hâm mộ truyền tai nhau và trở thành một biệt danh vô cùng phổ biến đối với nhân vật này.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]