Tiếp thị kỹ thuật số

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Tỷ lệ doanh thu quảng cáo so với GDP của Hoa Kỳ cho thấy sự gia tăng của quảng cáo kỹ thuật số từ năm 1995, đi kèm với sự sụt giảm chi phí cho truyền thông in ấn.[1]

Tiếp thị kỹ thuật số (tiếng Anh: Digital Marketing) là một hình thức tiếp thị sử dụng Internet và các công nghệ kỹ thuật số như máy tính, điện thoại di động, các nền tảng và phương tiện truyền thông trực tuyến khác để quảng bá sản phẩmdịch vụ.[2][3] Tiếp thị kỹ thuật số bùng nổ từ những năm 1990 và 2000 đã thay đổi hoàn toàn cách các doanh nghiệp quảng bá.

Nền tảng số hòa nhập vào đời sống, cùng thói quen sử dụng thiết bị số ngày càng phổ biến[4] đã thúc đẩy các chiến dịch tiếp thị kỹ thuật số lên ngôi.[5][6] Sự bùng nổ của các chiến dịch tiếp thị kỹ thuật số là kết quả của việc kết hợp hiệu quả các yếu tố như tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO), tiếp thị qua công cụ tìm kiếm (SEM), tiếp thị nội dung, tiếp thị ảnh hưởng, tự động hóa nội dung, tiếp thị dựa trên dữ liệu, tiếp thị thương mại điện tử, tiếp thị truyền thông xã hội, tối ưu hóa phương tiện truyền thông xã hội, tiếp thị trực tiếp qua email, quảng cáo hiển thị hình ảnh.

Tiếp thị kỹ thuật số ngày càng phát triển, không chỉ giới hạn trên môi trường Internet mà còn mở rộng sang các kênh không có Internet như: tivi, điện thoại di động (SMS và MMS), cuộc gọi lại và nhạc chuông chờ.[7] Nhờ đó, tiếp thị kỹ thuật số được phân biệt rõ ràng với tiếp thị trực tuyến.[8]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sự phát triển của tiếp thị kỹ thuật số không thể tách rời với sự phát triển công nghệ. Một trong những điểm quan trọng khi bắt đầu là vào năm 1971, nơi Ray Tomlinson đã gửi email đầu tiên và công nghệ của ông đã thiết lập nền tảng cho phép mọi người gửi và nhận tệp qua các máy khác nhau. Tuy nhiên, giai đoạn dễ nhận biết hơn khi bắt đầu Digital Marketing là năm 1990 vì đây là nơi công cụ tìm kiếm Archie được tạo ra như một chỉ mục cho các trang FTP. Vào những năm 1980, dung lượng lưu trữ của máy tính đã đủ lớn để lưu trữ khối lượng thông tin khách hàng khổng lồ. Các công ty bắt đầu chọn các kỹ thuật trực tuyến, chẳng hạn như tiếp thị cơ sở dữ liệu, thay vì môi giới danh sách hạn chế. Loại cơ sở dữ liệu này cho phép các công ty theo dõi thông tin của khách hàng hiệu quả hơn, do đó làm thay đổi mối quan hệ giữa người mua và người bán. Tuy nhiên, quy trình thủ công không hiệu quả lắm.

Vào những năm 1990, thuật ngữ Digital Marketing lần đầu tiên được đặt ra,. Với sự ra mắt của kiến trúc máy chủ / máy khách và sự phổ biến của máy tính cá nhân, các ứng dụng Quản lý quan hệ khách hàng (CRM) đã trở thành một phần quan trọng của công nghệ tiếp thị. Cạnh tranh khốc liệt buộc các nhà cung cấp đưa thêm dịch vụ vào phần mềm của họ, ví dụ như các ứng dụng tiếp thị, bán hàng và dịch vụ. Các nhà tiếp thị cũng có thể sở hữu dữ liệu khách hàng trực tuyến khổng lồ bằng phần mềm eCRM sau khi Internet ra đời. Các công ty có thể cập nhật dữ liệu về nhu cầu của khách hàng và có được các ưu tiên của trải nghiệm của họ. Điều này dẫn đến quảng cáo biểu ngữ có thể nhấp đầu tiên được phát hành vào năm 1994, đó là chiến dịch "Bạn sẽ" của AT&T và trong bốn tháng đầu tiên quảng cáo được phát hành, 44% tất cả những người nhìn thấy nó đã nhấp vào quảng cáo.

Vào những năm 2000, với ngày càng nhiều người dùng Internet và sự ra đời của iPhone, khách hàng bắt đầu tìm kiếm sản phẩm và đưa ra quyết định về nhu cầu của họ trực tuyến trước, thay vì hỏi ý kiến nhân viên bán hàng, điều này tạo ra một vấn đề mới cho bộ phận tiếp thị của một công ty. Ngoài ra, một cuộc khảo sát năm 2000 tại Vương quốc Anh cho thấy hầu hết các nhà bán lẻ đã không đăng ký địa chỉ tên miền của riêng họ. Những vấn đề này khiến các nhà tiếp thị tìm ra những cách thức kỹ thuật số để phát triển thị trường.

Năm 2007, khái niệm tự động hóa tiếp thị đã được đưa ra để giải quyết vấn đề trên. Tự động hóa tiếp thị đã giúp các công ty phân khúc khách hàng, khởi động các chiến dịch tiếp thị đa kênh và cung cấp thông tin cá nhân cho khách hàng. Tuy nhiên, tốc độ thích ứng của nó với các thiết bị tiêu dùng không đủ nhanh.

Tiếp thị kỹ thuật số trở nên tinh vi hơn vào những năm 2000 và 2010, khi sự phổ biến của các thiết bị có khả năng truy cập phương tiện kỹ thuật số dẫn đến sự tăng trưởng đột ngột. Số liệu thống kê vào năm 2012 và 2013 cho thấy tiếp thị kỹ thuật số vẫn đang phát triển. Với sự phát triển của phương tiện truyền thông xã hội trong những năm 2000, như LinkedIn, Facebook, YouTube và Twitter, người tiêu dùng trở nên phụ thuộc rất nhiều vào thiết bị điện tử kỹ thuật số trong cuộc sống hàng ngày. Do đó, họ mong đợi trải nghiệm người dùng liền mạch trên các kênh khác nhau để tìm kiếm thông tin của sản phẩm. Sự thay đổi hành vi của khách hàng đã cải thiện sự đa dạng hóa của công nghệ tiếp thị.

Phương pháp tiếp thị phi tuyến tính mới[sửa | sửa mã nguồn]

Nhờ khả năng tương tác, Tiếp thị phi tuyến tính trở thành phương pháp tiếp thị dài hạn giúp các doanh nghiệp thu thập thông tin về hoạt động trực tuyến của người dùng Internet và hiển thị quảng cáo ở nhiều khu vực.[9][10][11][12]

Các chiến lược tiếp thị kỹ thuật số phi tuyến tính không giống như các kỹ thuật tiếp thị truyền thống. Trong khi các kỹ thuật truyền thống chỉ nhắn tin trực tiếp, một chiều tới người tiêu dùng (thông qua quảng cáo trên báo giấy, truyền hìnhđài phát thanh), thì các chiến lược tiếp thị kỹ thuật số phi tuyến tính tập trung vào việc tiếp cận khách hàng tiềm năng trên nhiều kênh trực tuyến.[13]

Với kiến thức người tiêu dùng cao hơn và nhu cầu về các dịch vụ tiêu dùng phức tạp hơn, nhiều doanh nghiệp đã phải thay đổi chiến lược tiếp cận của họ. Họ áp dụng hoặc kết hợp các kỹ thuật tiếp thị đa kênh, phi tuyến tính để duy trì đủ mức độ hiển thị, tương tác và tiếp cận thương hiệu.[14]

Để tiếp cận hiệu quả với khách hàng tiềm năng, các chiến lược tiếp thị phi tuyến tính tập trung vào việc điều chỉnh quảng cáo cho phù hợp với các nền tảng khác nhau và cho từng người mua riêng lẻ.[15][12]

Chiến thuật có thể bao gồm:

Sự thay đổi hành vi của người tiêu dùng khiến phản ứng của họ đối với các phương pháp tiếp thị truyền thống trở nên khó dự đoán hơn.[16] Điều này xuất phát từ việc gần 90% người tiêu dùng trực tuyến ở Hoa Kỳ đã nghiên cứu trực tuyến về sản phẩm và nhãn hiệu trước khi mua hàng (theo một nghiên cứu năm 2018).[17] Theo Chỉ số web toàn cầu năm 2018, hơn 50% người tiêu dùng cũng sử dụng mạng xã hội để tìm hiểu sản phẩm.[18] Do đó, các doanh nghiệp thường dựa vào việc các cá nhân miêu tả sản phẩm của họ theo hướng tích cực trên mạng xã hội.[19] Việc nhắm mục tiêu đến những người có lượng theo dõi lớn trên mạng xã hội để tạo ra những nhận xét như vậy giúp doanh nghiệp giảm chi phí cho công ty.[20]

Nhận thức thương hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếp thị kỹ thuật số hiện đại hướng đến mục tiêu nâng cao nhận thức về thương hiệu. Mục tiêu này nhằm giúp khách hàng và công chúng quen thuộc và nhận ra thương hiệu một cách hiệu quả.[21] Nâng cao nhận thức về thương hiệu đóng vai trò quan trọng trong tiếp thị kỹ thuật số và tiếp thị nói chung. Lý do là nó ảnh hưởng đến nhận thức về thương hiệu và quyết định mua hàng của người tiêu dùng.[22]

Xu hướng gần đây cho thấy các doanh nghiệpnhà tiếp thị kỹ thuật số đang ưu tiên nhận thức về thương hiệu. Họ tập trung nhiều hơn vào nỗ lực tiếp thị kỹ thuật số nhằm nâng cao khả năng nhận diện và gợi nhớ thương hiệu so với những năm trước. Điều này được chứng minh bởi một nghiên cứu của Viện Tiếp thị Nội dung năm 2019, cho thấy 81% các nhà tiếp thị kỹ thuật số đã nỗ lực nâng cao nhận diện thương hiệu trong năm qua. Một cuộc khảo sát khác của Viện Tiếp thị Nội dung cho thấy 89% các nhà tiếp thị B2B hiện tin rằng việc nâng cao nhận thức về thương hiệu quan trọng hơn những nỗ lực nhằm tăng doanh số bán hàng.

Nâng cao nhận thức về thương hiệu là trọng tâm của chiến lược tiếp thị kỹ thuật số vì một số lý do:

  • Sự bùng nổ của Internet đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của mua sắm trực tuyến. Theo dự đoán, sẽ có 230,5 triệu người ở Hoa Kỳ sử dụng Internet để mua sắm, so sánh và mua sản phẩm vào năm 2021, tăng từ 209,6 triệu vào năm 2016.[23] Nghiên cứu của Salesforce cũng chỉ ra rằng 87% người tiêu dùng bắt đầu tìm kiếm sản phẩm, thương hiệu trên kênh digital vào năm 2018.[24]
  • Vai trò của tương tác kỹ thuật số trong hành vi của khách hàng ngày càng trở nên quan trọng. Theo ước tính, 70% tổng số hàng bán lẻ được thực hiện ở Mỹ chịu ảnh hưởng ở một mức độ nào đó bởi sự tương tác với một thương hiệu trực tuyến.[25]
  • Người tiêu dùng trực tuyến ngày nay có xu hướng lựa chọn những thương hiệu mà họ biết đến. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng nhận thức về thương hiệu trong thị trường cạnh tranh hiện nay. Một nghiên cứu cho thấy 82% người mua hàng trực tuyến khi tìm kiếm dịch vụ sẽ ưu tiên những thương hiệu quen thuộc.[26]
  • Phương tiện truyền thông xã hội ngày nay đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người. Nó không chỉ là công cụ tiện lợi để kết nối mà còn là kênh ảnh hưởng đến xu hướng tiêu dùng. Theo thống kê, số lượng người dùng mạng xã hội trên toàn cầu đã tăng 9% so với năm 2018, đạt hơn 3,4 tỷ người.[27] Một cuộc khảo sát năm 2019 của The Manifest cho thấy 74% người dùng mạng xã hội theo dõi các thương hiệu trên các trang xã hội. Đáng chú ý hơn, 96% những người theo dõi doanh nghiệp cũng tương tác với các thương hiệu đó trên nền tảng xã hội.[28] Theo Deloitte, cứ ba người tiêu dùng Hoa Kỳ thì có một người bị ảnh hưởng bởi mạng xã hội khi mua sản phẩm. Đặc biệt, 47% thế hệ millennials tính đến sự tương tác của họ với một thương hiệu trên mạng xã hội khi mua hàng.[29]

Cách thức tăng nhận diện thương hiệu trên môi trường trực tuyến[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến lược tiếp thị kỹ thuật số sử dụng một hoặc nhiều kênh và kỹ thuật trực tuyến (đa kênh) để nâng cao nhận thức về thương hiệu của người tiêu dùng.[30] Để xây dựng nhận thức về thương hiệu có thể sử dụng thêm các phương pháp/công cụ như:

Tối ưu hóa công cụ tìm kiếm (SEO)[sửa | sửa mã nguồn]

Kỹ thuật tối ưu hóa công cụ tìm kiếm có thể giúp cải thiện khả năng hiển thị của các trang web doanh nghiệp và nội dung liên quan đến thương hiệu cho các truy vấn tìm kiếm phổ biến trong ngành.[31] Tầm quan trọng của SEO trong việc nâng cao nhận thức về thương hiệu liên quan đến ảnh hưởng ngày càng tăng của kết quả tìm kiếm và các tính năng tìm kiếm như đoạn trích nổi bật, bảng tri ​​​​thức và SEO địa phương đối với hành vi của khách hàng.[32][33]

Tiếp thị qua công cụ tìm kiếm (SEM)[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếp thị qua công cụ tìm kiếm hay còn gọi là quảng cáo trả tiền cho mỗi lần nhấp (PPC), là hình thức mua vị trí quảng cáo nổi bật trên trang kết quả tìm kiếm và website. Quảng cáo trên công cụ tìm kiếm này có tác động tích cực đến mức độ nhận diện thương hiệu, độ phủ và tỷ lệ chuyển đổi.[34] Thống kê cho thấy, 33% người tìm kiếm nhấp vào quảng cáo trả phí bởi vì chúng đáp ứng trực tiếp nhu cầu của họ.[35]

Tiếp thị truyền thông xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếp thị truyền thông xã hội mang đặc điểm luôn luôn trong trạng thái tiếp thị và tương tác với người tiêu dùng, tập trung vào nội dung và kỹ năng tương tác. Quá trình tiếp thị cần theo dõi, phân tích, tổng hợp và quản lý theo thời gian thực. Mục tiêu tiếp thị cũng cần điều chỉnh dựa trên phản hồi thời gian thực từ thị trường và người tiêu dùng.[36] 70% các nhà tiếp thị coi nâng cao nhận thức về thương hiệu là mục tiêu hàng đầu khi tiếp thị trên mạng xã hội. Facebook, Instagram, TwitterYouTube là những nền tảng phổ biến nhất được các nhóm tiếp thị truyền thông xã hội sử dụng hiện nay. Tính đến năm 2021, LinkedIn đã trở thành một trong những nền tảng truyền thông xã hội được các nhà lãnh đạo doanh nghiệp sử dụng nhiều nhất vì khả năng kết nối mạng chuyên nghiệp hiệu quả.[37][38][39][40]

Tiếp thị nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thống kê, khoảng 56% nhà tiếp thị tin rằng nội dung cá nhân hóa, bao gồm blog, bài viết, cập nhật mạng xã hội, video và trang đích tập trung vào thương hiệu, sẽ giúp cải thiện khả năng gợi nhớ và tương tác với thương hiệu.

Lợi ích của Tiếp thị kỹ thuật số[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là một số ưu điểm của tiếp thị kỹ thuật số:

  • Bất kỳ thông tin nào cần thiết đều có thể truy cập bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu.[41]
  • Hiệu quả hơn tiếp thị qua internet và có các lựa chọn thay thế không cần sử dụng internet.[42]
  • Dẫn đầu trong việc cung cấp các cách thức và tính năng mang lại nhiều lợi ích, giúp doanh nghiệp tiếp cận, thông báo, tương tác, chào hàng và bán dịch vụ, sản phẩm đến khách hàng tiềm năng.[41]
  • Doanh nghiệp có thể tiếp cận dữ liệu giúp xác định đối tượng khách hàng tiềm năng dựa trên các yếu tố như độ tuổi, vị trí địa lý, sở thích và trình độ học vấn.[43]
  • Tiết kiệm chi phí đầu tư, chi phí cho mỗi khách hàng tiềm năng chỉ bằng 1/3 so với tiếp thị truyền thống.[44]
  • Có khả năng tiếp cận toàn bộ người dùng di động trên thế giới, nơi hiện có hơn 14 tỷ thiết bị di động và dự kiến tăng lên gần 18 tỷ vào năm 2024.[44]

Sự khác biệt giữa Tiếp thị kỹ thuật số và Tiếp thị truyền thống[45][sửa | sửa mã nguồn]

Đặc điểm Tiếp thị kỹ thuật số Tiếp thị truyền thống
Không gian Không bị giới hạn về không gian giữa các quốc gia, lãnh thổ Bị giới hạn về không gian giữa lãnh thổ quốc gia
Phương thức Sử dụng internet trên những thiết bị số hóa, không phụ thuộc

nhiều vào các hãng truyền thông.

Chủ yếu sử dụng các phương tiện truyền thông

đại chúng để Marketing.

Thời gian Ở mọi lúc, mọi nơi, thông tin được cập nhật rất nhanh. Bị giới về thời gian và biên giới quốc gia vùng lãnh thổ
Chi phí Chi phí tương đối thấp, nhưng vẫn đem lại hiệu quả tốt, đặc biệt

có thể kiểm soát được chi phí quảng cáo (Facebook Ads, Google Adwords).

Chi phí cao, ngân sách lớn khó kiểm soát được chi phí

quảng cáo, và thường ấn định chỉ dùng được 1 lần.

Khách hàng Hoàn toàn có thể lựa chọn khách hàng tiềm năng và tiếp cận. Khó lựa chọn được một nhóm khách hàng cụ thể.
Phản hồi Khách hàng có thể tiếp nhận cũng như phản hồi lại thông tin có thể ngay lập tức Cần đòi hỏi mất 1 khoảng thời gian để khách hàng

có thể tiếp cận cũng như phản hồi lại thông tin

Lưu trữ thông tin Thông tin của khách hàng được lưu trữ dễ dàng và nhanh chóng Rất khó lưu trữ thông tin khách hàng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nakamura, Leonard I. (FRB); Samuels, Jon (BEA); Soloveichik, Rachel H. (BEA) (24 tháng 10 năm 2017). “Measuring the "Free" Digital Economy Within the GDP and Productivity Accounts” (PDF). SSRN.com. Social Science Research Network publishing working paper 17-37 of the Research Department, Federal Reserve Bank of Philadelphia. tr. 37 (Fig. 3). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2021.
  2. ^ “Definition of digital marketing”. Financial Times. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015.
  3. ^ “The Four Faces of Digital Marketing”. American Marketing Association. tháng 4 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2019.
  4. ^ Nielsen (10 tháng 3 năm 2016). “Digital Advertising is Rising in Canada, Requiring More Sophisticated Measures of Success”. Nielsen. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2016.
  5. ^ Nielsen (20 tháng 1 năm 2016). “Connected Commerce is Creating Buyers Without Border”. Nielsen Global. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2016.
  6. ^ Dahlen, Micael (2010). Marketing Communications: A Brand Narrative Approach. Chichester, West Sussex UK: John Wiley & Sons Ltd. tr. 36.
  7. ^ “Digital Marketing”. Techopedia. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2015.
  8. ^ “Digital Marketing Systems and Techniques”. Warwick. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2019.
  9. ^ Sabry, Fouad (15 tháng 12 năm 2023). Attention Economy: Mastering the Digital Marketplace of Attention (bằng tiếng Anh). One Billion Knowledgeable. ISBN 979-12-220-7206-7.
  10. ^ Sabry, Fouad (25 tháng 1 năm 2024). Market Research: Mastering Market Research, Strategies for Informed Decisions and Business Success (bằng tiếng Anh). One Billion Knowledgeable.
  11. ^ Solomon, Michael R. (3 tháng 2 năm 2021). The New Chameleons: How to Connect with Consumers Who Defy Categorization (bằng tiếng Anh). Kogan Page Publishers. ISBN 978-1-3986-0005-8.
  12. ^ a b Clerck, J.-P. De (10 tháng 1 năm 2014). “Integrated marketing: the nonlinear connected buyer journey”. i-SCOOP (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020.
  13. ^ “What is Nonlinear Marketing? And How Can it be Used to Grow Your Sales and Revenues?”. www.linkedin.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2020.
  14. ^ Su, Bill (8 tháng 6 năm 2018). “The evolution of consumer behavior in the digital age”. Medium (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020.
  15. ^ “5 Major Brands That Use Nonlinear Digital Marketing To Engage Consumers”. Business Diary Philippines (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020.
  16. ^ Turner, Jamie; Shah, Reshma; Jain, Varsha (1 tháng 3 năm 2018). “How brands are using nonlinear marketing to address consumer resistance to traditional marketing strategies”. Journal of Brand Strategy (bằng tiếng Anh). 6 (4): 397–408. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020.
  17. ^ PYMNTS (9 tháng 1 năm 2018). “Study Finds Consumers Research Before They Buy”. PYMNTS.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020.
  18. ^ Bayindir, Nisa (15 tháng 1 năm 2019). “Social-H2-2018-report” (PDF). Global Web Index. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2023.
  19. ^ Brown, Eileen. “Consumers trust user-generated content more than traditional advertising”. ZDNet (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020.
  20. ^ “6 Key Benefits of User-Generated Content (and How You Can Achieve Them)”. Social Media Today (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2020.
  21. ^ “Marketing Strategy and Brochure | Submitted By - Nikita Warkar - Marketing Department”. National Management Olympiad | Business Case Scenario (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2024.
  22. ^ Chovanová, Henrieta Hrablik; Korshunov, Aleksander Ivanovich; Babčanová, Dagmar (1 tháng 1 năm 2015). “Impact of Brand on Consumer Behavior”. Procedia Economics and Finance. International Scientific Conference: Business Economics and Management (BEM2015) (bằng tiếng Anh). 34: 615–621. doi:10.1016/S2212-5671(15)01676-7. ISSN 2212-5671.
  23. ^ “Number of digital shoppers in the U.S. 2021”. Statista (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  24. ^ “Shopper-First Retailing: New Research from 6,000 Consumers and 1.4 Billion Ecommerce Visits Reveals What Shoppers Actually Want”. Salesforce Blog (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  25. ^ “In-Store Sales Still Rule, but Digital Helps”. eMarketer. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  26. ^ “Why Brand Awareness Matters”. CMSWire.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  27. ^ “Report Library”. DataReportal – Global Digital Insights (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  28. ^ “How Social Media Can Help Businesses Win Loyal Customers | The Manifest”. themanifest.com. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  29. ^ Digital, Deliotte (1 tháng 6 năm 2020). “Navigating the New Digital Divide” (PDF). Deliotte. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2020.
  30. ^ ACTUAL PROBLEMS OF MODERN SCIENCE (bằng tiếng Ukraina). International Science Group. 31 tháng 1 năm 2023. tr. 144. ISBN 979-8-88896-543-6.
  31. ^ Turban, Efraim; Pollard, Carol; Wood, Gregory (31 tháng 1 năm 2018). Information Technology for Management: On-Demand Strategies for Performance, Growth and Sustainability (bằng tiếng Anh). John Wiley & Sons. ISBN 978-1-118-89079-0.
  32. ^ 1.0kshares; 22kreads (22 tháng 6 năm 2018). “Why Your SEO Focus Should Be Brand Building”. Search Engine Journal (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  33. ^ ACTUAL PROBLEMS OF MODERN SCIENCE (bằng tiếng Ukraina). International Science Group. 31 tháng 1 năm 2023. tr. 144. ISBN 979-8-88896-543-6.
  34. ^ “New Study: Search Ads Lift Brand Awareness”. Inside AdWords (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  35. ^ “How to Approach Search Marketing Using PPC Advertising and SEO Services | Clutch.co”. clutch.co. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  36. ^ Dwivedi, Yogesh K.; Kapoor, Kawaljeet Kaur; Chen, Hsin (31 tháng 10 năm 2015). “Social media marketing and advertising”. The Marketing Review. 15 (3): 289–309. doi:10.1362/146934715X14441363377999.
  37. ^ “Council Post: Top Five Social Media Platforms for Business Leaders”. Forbes. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2021.
  38. ^ Cope, Kathryn (20 tháng 7 năm 2019). Hieuaccount Agency (bằng tiếng Anh). Amazon Digital Services LLC - KDP Print US. ISBN 978-1-0816-4478-9.
  39. ^ Geyser, Werner (3 tháng 2 năm 2020). “36 of the Most Important LinkedIn Statistics for 2023”. Influencer Marketing Hub. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2024.
  40. ^ Shewale, Rohit (20 tháng 1 năm 2024). “LinkedIn Statistics In 2024 (Global Demographics)”. DemandSage (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2024.
  41. ^ a b “Error - Error”. webso.iup.edu. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2023.
  42. ^ Kim, Juran; Kang, Seungmook; Lee, Ki Hoon (1 tháng 6 năm 2021). “Evolution of digital marketing communication: Bibliometric analysis and network visualization from key articles”. Journal of Business Research (bằng tiếng Anh). 130: 552–563. doi:10.1016/j.jbusres.2019.09.043. ISSN 0148-2963. S2CID 211448350.
  43. ^ “The Scope of Digital Marketing in 2023”. Simplilearn.com (bằng tiếng Anh). 23 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2023.
  44. ^ a b “What is Digital Marketing?”. American Marketing Association (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2023.
  45. ^ yelle, juan (23 tháng 7 năm 2018). “The Difference between Traditional Marketing and Digital Marketing”. Digital Doughnut.

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ryan, Damian; Jones, Calvin (2009), Understanding digital marketing: marketing strategies for engaging the digital generation, Kogan Page, ISBN 978-0749453893
  • Carter, Ben; Brooks, Gregory; Catalano, Frank; Smith, Bud (2007), Digital Marketing for Dummies, John Wiley & Sons, ISBN 9780470057933
  • Guilbeault, Douglas. “DIGITAL MARKETING IN THE DISINFORMATION AGE.” Journal of International Affairs, vol. 71, no. 1.5, 2018, pp. 33–42. JSTOR, JSTOR 26508116. Accessed 28 Jun. 2022.
  • TRUMAN, E. (2022). Picturing Digital Tastes: #unicornlatte, Social Photography, and Instagram Food Marketing. In E. J. H. CONTOIS & Z. KISH (Eds.), Food Instagram: Identity, Influence, and Negotiation (pp. 115–131). University of Illinois Press. JSTOR 10.5406/j.ctv2d6jrkj.11
  • Eric M. Olson and Kai M. Olson and Andrew J. Czaplewski and Thomas Martin Key (2021). “Business strategy and the management of digital marketing”. Business Horizons. 64 (2): 285–293. doi:10.1016/j.bushor.2020.12.004. ISSN 0007-6813. S2CID 233775350.