Trương Thị Thận

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tam giai Thụy tần
三階瑞嬪
Thiệu Trị Đế Tam giai Tần
Thông tin chung
Phu quânNguyễn Hiến Tổ
Thiệu Trị
Hậu duệHoàng nữ Ủy Thanh
Phong Lộc Quận công Hồng Kháng
Hoàng nữ Liêu Diệu
Hoàng nữ Nhàn Nhã
Lạc Thành Công chúa Nhàn Đức
Hiệp Hòa Đế
Tên húy
Trương Thị Thận
Tước hiệuPhủ thiếp (府妾)
Cung tần (宮嬪)
Huy tần (徽嬪)
Thụy tần (瑞嬪)
Hoàng thái phi (皇太妃)
Đoan tần (端嬪)
Thân phụTrương Văn Minh
Thân mẫuVũ Thị Tông
Sinh16 tháng 2 năm 1817
Mất2 tháng 1 năm 1889 (73 tuổi)
An tángLong Khê, Hương Trà, Thừa Thiên

Tam giai Thụy tần Trương Thị Thận (có sách ghi là Thuận) (chữ Hán: 三階瑞嬪 張氏慎; 16 tháng 2 năm 18172 tháng 1 năm 1889), còn có húy là Tuân, là một cung tần của Nguyễn Hiến Tổ Thiệu Trị Đế.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất thân[sửa | sửa mã nguồn]

Thụy tần Trương Thị Thận là người gốc huyện Tống Sơn, Thanh Hoá. Cha của bà là ông Trương Văn Minh, được truy tặng là Vệ úy Minh Đức hầu, mẹ là bà Vũ Thị Tông (hoặc Tôn). Bà sinh vào đúng mùng một Tết Nguyên Đán năm Đinh Sửu (1817).

Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), bà nhập phủ Trường Khánh công Nguyễn Phúc Miên Tông với danh phận Phủ thiếp[1].

Sách phong Tần vị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1841, Thiệu Trị đăng cơ, bà Thận cùng với một số bà Phủ thiếp khác được ban làm Cung tần (宮嬪), chờ mãn tang vua cha Minh Mạng.

Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), bà được phong làm Tứ giai Huy tần (四階徽嬪). Cùng hàng Tứ giai Tần lúc này có bà Nhu tần Nguyễn Thị Yên, chị gái của bà Nguyễn Thị Xuyên. Tứ giai khi đó bao gồm những phong hiệu từ cao đến thấp như sau: Huy tần (徽嬪), Ý tần (懿嬪), Nhu tần (柔嬪). Chức Ý tần được ban cho bà Nguyễn Thị Huyên, còn Nhu tần được ban cho bà Nguyễn Thị Yên.

Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), bà lại được thăng lên hàng Tam giai Thụy tần (三階瑞嬪).

Tôn phong Thái phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tự Đức thứ 36, Tự Đức băng hà, Dục Đức bị hai quyền thần là Nguyễn Văn TườngTôn Thất Thuyết phế truất. Con trai bà là Lãng Quốc công Nguyễn Phúc Hồng Dật được đưa lên làm Hoàng đế, lấy niên hiệu Hiệp Hoà. Bà Thụy tần cũng được tôn phong lên làm Hoàng thái phi[2], ngày sinh nhật của bà được gọi là Thiên Xuân tiết (千春節). Bốn tháng sau, Hiệp Hoà bị Tôn Thất Thuyết phế truất và xử chết. Hoàng thái phi cũng bị giáng trở lại làm Thụy tần (瑞嬪), sau này trong Chính biên Liệt truyện sửa lại là Đoan tần (端嬪).

Ngày 1 tháng 12 năm Mậu Tí (nhằm ngày 2 tháng 1 năm 1889 Dương lịch), dưới triều Đồng Khánh, Thụy tần qua đời, thọ 72 tuổi. Bà được táng tại Dương Xuân Hạ, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1917, dưới triều Khải Định, tẩm mộ của Thụy tần được cải táng về Long Khê, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Thụy tần Trương Thị Thận và Lương phi Võ Thị Viên là hai bà hạ sinh được nhiều con nhất trong hậu cung của ngài Thiệu Trị. Nhưng cũng như bà Lương phi, chỉ có 3 người con là còn sống qua tuổi trưởng thành.

  1. Hoàng nữ Nguyễn Phúc Ủy Thanh (18351837), chết yểu. Thờ tại Lệ Thục từ.
  2. Phong Lộc Quận công Nguyễn Phúc Hồng Kháng (5 tháng 5 năm 183719 tháng 2 năm 1865). Mất mà không có con, lấy công tử Ưng Hiệp, con của em trai Hồng Dật làm thừa tự.
  3. Hoàng nữ Nguyễn Phúc Liêu Diệu (1838), chết non. Thờ tại Lệ Thục từ.
  4. Hoàng nữ Nguyễn Phúc Nhàn Nhã (18391840), chết yểu. Thờ tại Lệ Thục từ.
  5. Lạc Thành Công chúa Nguyễn Phúc Nhàn Đức (? – sau năm 1899[3]), không rõ hôn sự.
  6. Hiệp Hòa Phế đế Nguyễn Phúc Hồng Dật (1 tháng 11 năm 184729 tháng 11 năm 1883), sau bị quyền thần phế truất và bức tử. Thành Thái truy phong làm Văn Lãng Quận vương (文朗郡王).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phủ thiếp chỉ những bà vợ của các Hoàng tử (không phân biệt cả lẽ) được triều đình cưới hỏi theo đầy đủ lễ nghi, khác với dắng thiếp (hoặc đằng thiếp) chỉ là những nàng hầu, thứ thiếp.
  2. ^ Thụy tần Trương thị chỉ được phong Thái phi do bà Từ Dụ Hoàng thái hậu vẫn còn sống
  3. ^ Trên tấm bia dựng ở chùa Từ Hiếu dựng năm Thành Thái thứ 11 (1899), công chúa Lạc Thành vẫn còn quyên tiền vào việc sửa chùa. Xem Chùa Từ Hiếu.