Trần Phương (nghệ sĩ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Phương
Sinh 10 tháng 4, 1930 (87 tuổi)
Thái Nguyên, Liên bang Đông Dương
Nghề nghiệp Diễn viên, đạo diễn
Hoạt động 1960 - nay

Trần Phương (1930) là diễn viên, đạo diễn điện ảnh Việt Nam. Ông được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân (2001) và Giải thưởng Nhà nước (2007).

Tiểu sử và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật Trần Đức Phương, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1930, quê ở Thái Nguyên. Trước khi đến với điện ảnh, ông chưa từng qua học bất cứ trường lớp đào tạo diễn viên hay đạo diễn điện ảnh nào. Năm 16 tuổi, ông rời trường học, tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1952, ông là một trong những học viên đầu tiên của Trường Văn nghệ nhân dân được thành lập tại chiến khu Việt Bắc. Ông tham gia nhiều thể loại, theo học kịch với Thế Lữ, Song Kim, Đoàn Phú Tứ, học văn với Nguyên Hồng, Tô Hoài, học chèo với Năm Ngũ, Cả Tam, tham gia đóng ca kịch Hòn đá của Đỗ Nhuận...

Năm 1955, ông trở thành diễn viên của Xưởng phim truyện Việt Nam. Năm 1959, ông tham gia đóng bộ phim đầu tiên Vợ chồng A Phủ của đạo diễn Mai Lộc, kịch bản Tô Hoài. Trong bộ phim này, ông đã khắc hoạ thành công hình ảnh chàng thanh niên người Mèo A Phủ (đóng vai Mỵ là NSUT Đức Hoàn). Sau thành công của vai A Phủ, ông tiếp tục đóng thành công nhiều vai trong nhiều bộ phim đã trở thành kinh điển của điện ảnh Cách mạng như Khoa - chồng Tư Hậu - trong Chị Tư Hậu (1962), Khiêm trong Tiền tuyến gọi (1969), Sơn trong Biển gọi (1967), Tiệp trong Ngày lễ Thánh, Lực trong Vợ chồng anh Lực... Với những vai diễn này, ông là một trong những diễn viên kì cựu của điện ảnh Cách mạng cùng Trà Giang, Lâm Tới, Đức Hoàn...

Sau nhiều vai diễn, ông quyết định chuyển sang làm đạo diễn phim. Sau hai bộ phim làm phó đạo diễn cho Nghệ sĩ Nhân dân Trần VũChuyến xe bão tápNhững người đã gặp, bộ phim đầu tiên được ông dàn dựng là bộ phim về đề tài an ninh mang tên Mưa rơi trên thành phố (1978) dựa theo tác phẩm nhà văn Nguyễn Khắc Phục, biên kịch Mai Thanh. Bộ phim tiếp theo Dưới chân núi trắng là bộ phim truyền hình màu đầu tiên của Đài truyền hình Việt Nam, thực hiện năm 1979. Năm 1980, ông cho ra mắt bộ phim Tội lỗi cuối cùng đã gây nên một cơn sốt vé trong các rạp chiếu ở cả Nam lẫn Bắc. Trong bộ phim này, diễn viên Phương Thanh đóng vai Hiền "cá sấu", còn nam tài tử Trần Quang đóng vai tướng cướp Long Vân. Bộ phim còn có sự tham gia diễn xuất và viết ca khúc "Đời gọi em biết bao lần" của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Với bộ phim này, Trần Phương đã giành Bông sen bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ V, Phương Thanh giành giải Nữ diễn viên xuất sắc nhất. Ông tiếp tục thực hiện những bộ phim khác như: Hi vọng cuối cùng (1981), Đứng trước biển (1985), Hoàng Hoa Thám (1987), Dòng sông hoa trắng (1989)... Bộ phim Dòng sông hoa trắng có sự diễn xuất của Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang (đây là vai diễn sau cùng của bà), cũng được giới chuyên môn đánh giá cao. Bộ phim Hi vọng cuối cùng (1981) với sự tham gia của Đặng Tất BìnhNhư Quỳnh đã giành giải Bông sen bạc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ VI, và ông cũng giành giải Đạo diễn xuất sắc nhất.

Thập niên 1990, khi trào lưu phim mì ăn liền phát triển, ông cũng tích cực tham gia với hàng loạt bộ phim Vụ án Hồ Con Rùa, Dòng thác, SBC (Săn bắt cướp), Thủ môn từ trên trời rơi xuống, Tình ngỡ đã phôi phai, Vệt sáng ngược, Hai năm nữa anh về... có doanh thu rất cao. Nhiều bộ phim trong số này nội dung về đề tài an ninh, giúp ông ghi dấu là một trong những đạo diễn có nhiều bộ phim hay về đề tài an ninh nhất. Trong những phim của mình, Trần Phương luôn cân bằng giữa yếu tố nghệ thuật và thị trường. Thập niên 2000, mặc dù đã hơn 70 tuổi nhưng ông vẫn tiếp tục thực hiện nhiều bộ phim như Đêm Bến Tre (đề tài Đồng khởi miền Nam) và Khi người ta yêu nhau.

Năm 2001, ông được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Năm 2007, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho các phim Hi vọng cuối cùng, Tội lỗi cuối cùng, Dòng sông hoa trắng.

Phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Đạo diễn Vai
1961 Vợ chồng A Phủ Mai Lộc A Phủ
1962 Chị Tư Hậu Phạm Kỳ Nam Khoa
1965 Trên vĩ tuyến 17 Lý Thái Bảo, Nhất Hiên Trung sĩ Việt
1966 Lửa rừng Phạm Văn Khoa Pạo ly
1967 Biển gọi Tiến Lợi, Nguyễn Ngọc Trung Sơn
1969 Tiền tuyến gọi Phạm Kỳ Nam Vũ Khiêm
1970 Chị Nhung Nguyễn Đức Hinh, Đặng Nhật Minh
1970 Bức tranh để lại Nguyễn Thụ Tám Trung
1973 Vợ chồng anh Lực Trần Vũ Lực
1976 Ngày lễ Thánh Bạch Diệp Tiệp
1976 Sao tháng Tám Trần Đắc giáo sư Trung

Đạo diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Đạo diễn Vai
1981 Hy vọng cuối cùng Trần Phương
1987 Hoàng Hoa Thám Trần Phương
1992 Trong vòng tay chờ đợi Trần Phương
1994 Trà hoa nữ Trần Phương[1]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]