Trần Văn Thủy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trần Văn Thủy là đạo diễn phim Việt Nam, sinh năm 1940 tại Nam Định. Trong chiến tranh Việt Nam ông làm phóng viên chiến trường. Ông đã đạo diễn trên 20 phim tài liệu, trong đó có nhiều phim đoạt giải cao trong các liên hoan phim Quốc gia và Quốc tế. Ông đã được phong danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Văn Thủy sinh năm 1940 ở tỉnh Nam Định. Cha la Trần Văn Vỵ (1902–1975). Tuy ông Vỵ từng làm công chức của chính quyền bảo hộ, nhưng vẫn ngấm ngầm ủng hộ Việt Minh.[1] Mẹ là Đỗ Thị Hiếu (1913–2015). Trong gia đình có bảy người con, Thủy là con trai thứ hai. Vào năm 1949 người anh, Vĩnh, lớn hơn Thủy bốn tuổi, bị trúng đạn và chết trong một trận càn, cho nên Thủy trở thành con cả trong gia đình.[2]

Trong thời kỳ thơ ấu, Thủy học được bơi lội và hằng ngay hăng hái đi bơi. Sở trường này về sau trở nên rất quan trọng đối với việc giữ được mạng sống trong quãng thời gian làm phóng viên chiến tranh.[3] Cho đến năm 1954, khi lên 14 tuổi, ông được học theo chương trình trường Pháp. Theo lời của Thủy, cha ông là một người hết sức nhân từ, thường xót người nghèo khó, dùm bọc người sa cơ.[4] Thủy cũng nói là những hoạt động từ thiện của mình về sau là theo gương cha, người đã nhắc nhở ông khi ông còn bé. Sau năm 1954, gia đình của Thủy gặp nhiều khó khăn, vì cha đã làm việc cho chính quyền Pháp. Anh em của Thủy, bất kể dạt được điểm cao như thế nào trên các bài thi, không thể nào vào đại học được vì vấn đề “lý lịch”. Xin việc làm cũng khó.[5]

Sau khi tốt nghiệp phổ thống trung học, Thủy xin học một lớp nhân loại học do Bộ Văn hóa tổ chức. Năm 1960 học xong, ông lên miền núi để nghiên cứu về những bộ lạc ít người nhất của vùng Tây Bắc Việt Nam, thí dụ như Tong Lương, Khu Sung…[6] Năm 1965, Thủy về Hà Nội để học quay phim ở trường điện ảnh. Chương trình lẽ ra nên kéo dài hai năm và kết thúc vào năm 1967, nhưng sau một năm Thủy và một số học viên khác được tuyển làm phóng viên chiến trường ở miền Nam.[7]

Thủy làm phóng viên chiến tranh ở Khu 5 từ năm 1966 đến 1969, liên miên quay phim trên chiến trường. Cuộc sống của ông hết sức nguy hiểm và phải chịu đựng sự thiếu thốn mọi điều.[8] Vào năm 1969, tuy bị bệnh nặng, người còn rất yếu, ông lên đường về miền Bắc mang theo những hộp phim âm bản mà ông đã quay tại miền Nam. Những cuốn phim ấy về sau trở thành phim đầu tay của ông: “Những người dân quê tôi.”[9]

Năm 1972 Trần Văn Thủy đi Liên Xô học đạo diễn điện ảnh ở trường Điện ảnh Quốc gia Toàn Liên Bang ở Matxkơva, dưới sự hướng dẫn của ông Roman Karmen (1906–1978), một đạo diễn phim tài liệu nổi tiếng thế giới. Roman Karmen đánh giá cao phim Những người dân quê tôi, và ủng hộ những khát vọng nghề nghiệp của Thủy một cách nhiệt tình.[10]

Từ năm 1977, trở về Việt Nam, Thủy làm việc tại hãng phim Tài liệu Trung ương thuộc Bộ Văn hóa, ngoài ra cũng có những giai đoạn sống và làm việc ở nước ngoài.

Từ năm 1992 trở đi, Thủy đã làm nhiều việc từ thiện ở Hải Hậu, một vùng quê ở tỉnh Nam định, phần đông cư dân la người làm ruộng nghèo khó. Thông qua một số tổ chức, như “Các bạn của Trần Văn Thủy,” ông đã gom góp tiền bạc để giúp người dân xây đường, xây cầu, và xây trường học…[11]

Các phim của Trần Văn Thủy đã được khán giả trong ngoài nước đón nhận và đã đoạt được nhiều giải thưởng quốc gia và quốc tế.[12]

Một số bộ phim[sửa | sửa mã nguồn]

  • Những người dân quê tôi, phim đầu tay, quay ở chiến trường Quảng Đà, đoạt giải Bồ Câu Bạc tại Liên hoan phim Quốc tế Leipzig (1970).
  • Nơi Chúng Tôi Đã Sống (Nga văn: Там Где Мы Жили), quay ở Liên X, 1977
  • Phản bội, về chiến tranh biên giới Việt-Trung năm, 1979, giải vàng LHP Việt Nam 1980
  • Hà Nội trong mắt ai 1982, giải vàng LHP Việt Nam 1988
  • Chuyện tử tế (1985), nội dung về thân phận của những người nghèo khó và những mâu thuẫn xã hội được đánh giá là tác phẩm đặc sắc nhất của đạo diễn Trần Văn Thủy, đoạt giải Bồ Câu Bạc Liên hoan phim Quốc tế Leipzig, được báo chí nước ngoài gọi là “Quả bom đến từ Việt Nam nổ tung ở thành phố Leipzig”.
  • Có Hai Tục Ngữ (Làm ở Liên Xô), 1986
  • Thầy mù xem voi, (2 tập) về các cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, 1989–1990
  • Phiên chợ tình, 1992
  • Một Cõi Tâm Linh (làm với Channel Four England), 1993
  • Có Một Làng Quê (làm với NHK Nhật Bơn), 1994
  • Chuyện từ một góc công viên về những hậu quả của chất độc màu da cam để lại trong gia đình một cựu phóng viên chiến trường, 1996
  • Hải Hậu—Một Vùng Quê Văn Hoá, 1998.
  • Huế—Những di tích xưa, 1999
  • Huế—Lịch sử, 1999
  • Huế—Văn Hóa, 1999
  • Tiếng vĩ cầm ở Mỹ Lai 1999, giải Phim ngắn hay nhất, Liên hoan phim châu Á—Thái Bình Dương lần thứ 43.
  • Giáo sư Hoàng Minh Giám, 2000.
  • Nhà thờ Phát Diệm, 2001
  • Lời Của Đá, 2004
  • Mạn đàm về người Man di hiện đại (4 tập), phim về “ông tơ nghề báo Việt Nam” Nguyễn Văn Vĩnh 2006–7
  • Vọng khúc ngàn năm (3 tập), 2011

Kịch bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhà Giáo Nguyễn Lân, 2001
  • Alexander Yersin, 2015

Phim có sự hợp tác của Trần Văn Thủy[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoà Bình Cho Việt Nam (tham gia với tư cách cộng tac viên của Đài ABC Úc), 1991
  • Nam Retour sur image (tham gia với tư cách cộng tac viên của Quak Production Pháp), 1999

Một số sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nếu Đi Hết Biển, 2003
  • Chuyện Nghề Của Thủy (viết với Lê Thanh Dũng), 2013.
  • In Whose Eyes (bản dịch Anh ngữ của Chuyện Nghề Của Thủy ở trên), 2016
  • Trong Đống Tra Tàn (một tộp 16 tiểu luộn), 2016

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trần Văn Thủy, Trong Đống Tro Tàn, (Người Việt Books, 2016), chương 2, trang 51–64
  2. ^ Lê Thanh Dũng vằ Trần Văn Thủy, Chuyện Nghề Của Thủy (Công ty TNHH Phương Nam, 2013), chương 1, trang 38
  3. ^ Chuyện Nghề Của Thủy, chương 1, trang 38–39
  4. ^ Trong Đống Tro Tàn, chương 2, trang 58, 62
  5. ^ Chuyện Nghề Của Thủy, chương 3, trang 58–59
  6. ^ Chuyện Nghề Của Thủy, chương 2, trang 42–48
  7. ^ Chuyện Nghề Của Thủy, chương 3, trang 49–58
  8. ^ Chuyện Nghề Của Thủy, chương 5–6, trang 72–101
  9. ^ Chuyện Nghề Của Thủy, chương 7–8, trang 102–131
  10. ^ Chuyện Nghề Của Thủy, chương 10, trang 138–154
  11. ^ https://tranhuythuan.wordpress.com/tag/trần-van-thủy/ “Đạo diễn Trần Văn Thủy, Một trái tim nhân hộu.”
  12. ^ Chuyện Nghề Của Thủy, chương 26, trang 432–433

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]