USS Bush (DD-166)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Bush (DD-166)
Tàu khu trục USS Bush (DD-166)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Bush (DD-166)
Đặt tên theo: William Sharp Bush
Hãng đóng tàu: Fore River Shipyard, Quincy, Massachusetts
Đặt lườn: 4 tháng 7 năm 1918
Hạ thủy: 27 tháng 10 năm 1918
Đỡ đầu bởi: cô Josephine T. Bush
Nhập biên chế: 19 tháng 2 năm 1919
Xuất biên chế: 21 tháng 6 năm 1922
Xóa đăng bạ: 7 tháng 1 năm 1936
Số phận: Bán để tháo dỡ, 8 tháng 9 năm 1936
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Bush (DD–166) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Trung úy Thủy quân Lục chiến William Sharp Bush, người tử trận trong cuộc Chiến tranh 1812.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bush được đặt lườn vào ngày 4 tháng 7 năm 1918 tại xưởng tàu của hãng Fore River Shipbuilding CompanyQuincy, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 27 tháng 10 năm 1918, được đỡ đầu bởi cô Josephine T. Bush, một hậu duệ của Trung úy Bush, và được đưa ra hoạt động vào ngày 19 tháng 2 năm 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân R. B. Coffey.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy nghiệm thu vào tháng 7 năm 1919, Bush hoạt động dọc theo vùng bờ Đông Hoa Kỳ cùng với Hải đội Khu trục 3 trực thuộc Hạm đội Đại Tây Dương cho đến ngày 29 tháng 11 năm 1919, khi nó đi đến Charleston, South Carolina và trở thành một đơn vị của Hải đội 1, Chi hạm đội 7 với biên chế giảm thiểu. Nó ở trong tình trạng dự bị cho đến mùa Hè năm 1920, rồi tham gia các chuyến đi huấn luyện Hải quân Dự bị Hoa Kỳ. Sau đó nó kuân phiên hoạt động giữa Charleston, căn cứ mùa Đông, và Newport, Rhode Island, căn cứ mùa Hè, cho đến khi được cho xuất biên chế vào ngày 21 tháng 6 năm 1922 tại Xưởng hải quân Philadelphia. Sau gần 14 năm bị bỏ không, cuối cùng nó bị bán để tháo dỡ vào ngày 8 tháng 9 năm 1936 nhằm tuân thủ các điều khoản hạn chế vũ trang của Hiệp ước Hải quân London.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]