USS Murray (DD-97)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Murray (DD-97)
Tàu khu trục USS Murray
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Murray
Đặt tên theo: Alexander Murray
Hãng đóng tàu: Xưởng tàu Fore River, Quincy, Massachusetts
Đặt lườn: 22 tháng 12 năm 1917
Hạ thủy: 8 tháng 6 năm 1918
Đỡ đầu bởi: Alice S. Guthrie
Nhập biên chế: 21 tháng 8 năm 1918
Xuất biên chế: 1 tháng 7 năm 1922
Xếp lớp lại: DM-2, 17 tháng 7 năm 1920
Xóa đăng bạ: 7 tháng 1 năm 1936
Số phận: Bán để tháo dỡ, 29 tháng 9 năm 1936
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
113 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Murray (DD-97) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Chuẩn đô đốc Alexander Murray (1816–1884).

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Murray được đặt lườn vào ngày 22 tháng 12 năm 1917 tại xưởng tàu Fore River của hãng Bethlehem Shipbuilding CorporationQuincy, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 6 năm 1918, được đỡ đầu bởi Cô Alice S. Guthrie, và được đưa ra hoạt động tại Boston vào ngày 21 tháng 8 năm 1918 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Thiếu tá Hải quân R. G. Walling.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trong quãng đời hoạt động vỏn vẹn bốn năm dọc theo bờ Đông Hoa Kỳ và tại vùng biển Caribe cùng Hạm đội Đại Tây Dương, Murray đã giúp vảo việc phát triển chiến thuật chống tàu ngầm và kỹ thuật thủy lôi. Nó được xếp lớp lại như một tàu rải mìn với ký hiệu lườn DM-2 vào ngày 17 tháng 7 năm 1920, và nhận được những cải biến cần thiết cho vai trò mới. Nó được cho xuất biên chế tại Philadelphia vào ngày 1 tháng 7 năm 1922, và bị bỏ không tại đây cho đến khi được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 7 tháng 1 năm 1936. Murray bị bán cho hãng Schiavone-Bonomo CorporationNew York vào ngày 29 tháng 9 năm 1936 để tháo dỡ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]