USS Ingraham (DD-111)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Ingraham (DD-111)
Tàu khu trục USS Ingraham (DD-111)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Ingraham
Đặt tên theo: Duncan Nathaniel Ingraham
Hãng đóng tàu: Union Iron Works, San Francisco, California
Đặt lườn: 12 tháng 1 năm 1918
Hạ thủy: 4 tháng 7 năm 1918
Đỡ đầu bởi: bà Alfred S. Gann
Nhập biên chế: 15 tháng 5 năm 1919
Xuất biên chế: 29 tháng 6 năm 1922
Xếp lớp lại: DM-9, 8 tháng 1 năm 1920
Xóa đăng bạ: 1 tháng 12 năm 1936
Số phận: Bán để tháo dỡ
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Ingraham (DD–111) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, sau cải biến thành một tàu rải mìn hạng nhẹ với ký hiệu lườn DM-9. Nó là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo Đại tá Hải quân Duncan Nathaniel Ingraham (1802-1891).

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Ingraham được đặt lườn vào ngày 12 tháng 1 năm 1918 tại xưởng tàu của hãng Union Iron WorksSan Francisco, California. Nó được hạ thủy vào ngày 4 tháng 7 năm 1918, được đỡ đầu bởi bà Alfred S. Gann, và được đưa ra hoạt động vào ngày 15 tháng 5 năm 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân D. L. Le Breton.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Ingraham khởi hành vào ngày 20 tháng 5 cho chuyến đi chạy thử máy, băng qua kênh đào Panama và đi đến Newport, Rhode Island vào ngày 6 tháng 6. Sau khi được sửa chữa tại New York, nó lên đường cho một lượt phục vụ tại vùng biển Châu Âu. Đang khi viếng thăm Ostend, Bỉ vào ngày 22 tháng 9, nó đã đưa Vua và Hoàng hậu Bỉ đến Calais, Pháp. Chiếc tàu khu trục quay trở về San Diego vào ngày 8 tháng 1 năm 1920, ngang qua New York và vùng kênh đào, để bắt đầu được cải biến thành một tàu rải mìn hạng nhẹ.

Được xếp lại lớp với ký hiệu lườn mới DM-9, Ingraham bắt đầu các cuộc thực tập rải mìn vào tháng 1 năm 1921 dọc theo bờ biển California trước khi rời Mare Island vào ngày 7 tháng 6. Nó đi đến Trân Châu Cảng vào ngày 18 tháng 6, tham gia các hoạt động tại đây cho đến khi được cho ngừng hoạt động tại Trân Châu Cảng vào ngày 29 tháng 6 năm 1922. Tên nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 12 năm 1936, và nó bị bán để tháo dỡ sau đó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]