USS Kennison (DD-138)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Kennison (DD-138)
Tàu khu trục USS Kennison (DD-138)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Kennison (DD-138)
Đặt tên theo: William Kennison
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Mare Island, Vallejo, California
Đặt lườn: 14 tháng 2 năm 1918
Hạ thủy: 8 tháng 6 năm 1918
Đỡ đầu bởi: cô Elizabeth Riner
Nhập biên chế: 2 tháng 4 năm 1919
Tái biên chế: 18 tháng 12 năm 1939
Xuất biên chế: 22 tháng 6 năm 1922
21 tháng 11 năm 1945
Xếp lớp lại: AG-83, 1944
Xóa đăng bạ: 5 tháng 12 năm 1945
Số phận: Bán để tháo dỡ, 18 tháng 11 năm 1946
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Wickes
Trọng tải choán nước: 1.154 tấn Anh (1.173 t) (thông thường),
1.247 tấn Anh (1.267 t) (đầy tải)
Độ dài: 314,4 ft (95,83 m)
Sườn ngang: 31 ft (9,45 m)
Mớn nước: 9 ft (2,74 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;[1]
4 × nồi hơi 300 psi (2.100 kPa);[1]
2 × trục;
công suất 24.610 hp (18.350 kW)
Tốc độ: 35,3 kn (65,4 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
133 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 4 × pháo 4 in (100 mm)/50 caliber;[1]
1 × pháo 3 in (76 mm)/23 caliber;[1]
12 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×3)[1]

USS Kennison (DD–138) là một tàu khu trục thuộc lớp Wickes của Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, và tiếp tục phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai trước khi được xếp lại lớp như một tàu phụ trợ AG-83. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Hoa Kỳ được đặt tên theo William Kennison, một sĩ quan hải quân trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Kennison được đặt lườn vào ngày 14 tháng 2 năm 1918 tại Xưởng hải quân Mare Island, Vallejo, California. Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 6 năm 1918, được đỡ đầu bởi cô Elizabeth Riner, và được đưa ra hoạt động vào ngày 2 tháng 4 năm 1919 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân R. P. Enrich.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy, Kennison đi đến San Diego, cảng nhà của nó, vào ngày 25 tháng 3 năm 1920. Trong mùa Hè năm đó, nó tham gia các cuộc thử nghiệm ngư lôi và thực tập phòng không. Nó tiếp tục các hoạt động dọc bờ biển và thực hành chiến thuật cho đến ngày 12 tháng 8 năm 1921 khi nó bắt đầu hoạt động với biên chế nhân sự bị cắt giảm. Kennison được cho xuất biên chế tại San Diego vào ngày 22 tháng 6 năm 1922.

Được cho nhập biên chế trở lại vào ngày 18 tháng 12 năm 1939, dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại úy Hải quân William Giers Michelet, Kennison tham gia các cuộc Tuần tra Trung lập ngoài khơi San Diego từ ngày 6 tháng 5 năm 1940. Từ tháng 6 đến tháng 9, nó thực hiện các chuyến đi huấn luyện quân nhân dự bị trước khi quay lại nhiệm vụ Tuần tra Trung lập vào ngày 14 tháng 10. Chiếc tàu khu trục tiếp tục nhiệm vụ tuần tra dọc theo bờ Tây cho đến khi Hoa Kỳ tham gia Thế Chiến II; và nó làm nhiệm vụ bảo vệ chống tàu ngầm cho các đoàn tàu vận tải đến nhiều cảng California cho đến ngày 22 tháng 9 năm 1944 khi nó lên đường đi Bremerton để được cải biến nâng cấp.

Được xếp lại lớp với ký hiệu lườn AG-83, Kennison quay trở lại San Diego vào ngày 9 tháng 11 năm 1944 để tiếp tục phục vụ. Cho đến hết chiến tranh, nó hoạt động ngoài khơi San Diego như một tàu mục tiêu cho các cuộc thực tập phóng ngư lôi từ máy bay hải quân. Sau chiến tranh nó đi sang vùng bờ Đông, đi đến Norfolk vào cuối tháng 10. Kennison được cho ngừng hoạt động vào ngày 21 tháng 11 năm 1945 tại Portsmouth, Virginia. Nó được bán cho hãng Luria Brothers & Company, Inc. ở Philadelphia, Pennsylvania vào ngày 18 tháng 11 năm 1946 để tháo dỡ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Thomas, Donald I., CAPT USN "Recommissioning Destroyers, 1939 Style" United States Naval Institute Proceedings September 1979 tr. 71

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]