Vương triều thứ Hai mươi lăm của Ai Cập

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Vương triều thứ Hai mươi lăm của Ai Cập

 

 

760 TCN–656 TCN
Ai Cập Kushite năm 700 TCN.
Thủ đô Napata
Ngôn ngữ Ai Cập cổ đại, Nubian
Tôn giáo Tôn giáo Ai Cập cổ đại
Chính quyền Monarchy [[Thể loại:Cựu quốc gia quân chủ Châu Phi|Ai Cập, 760 TCN]]
pharaon
 •  760 - 752 TCN Kashta (đầu tiên)
 •  664 - 656 TCN Tantamani (cuối cùng)
Lịch sử
 •  Thành lập 760 TCN
 •  Bãi bỏ 656 TCN


Vương triều thứ Hai mươi lăm của Ai Cập cổ đại được biết đến như là vương triều Nubian hoặc Đế chế Kush là vương triều cuối cùng của Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba của Ai Cập cổ đại.

Kim tự tháp của Vương Triều 25 ở Nuri
Ngôi đền của Amun nằm ở chân của ngọn núi thiêng liêng, Jebel Barkal

Gia đình hoàng gia của Vương triều 25 là một dòng tộc có nguồn gốc từ nhà cầm quyền ở Nubian, Vương quốc Kush – ngày nay là Bắc Sudan và miền nam Ai Cập và hầu hết cho rằng Napata là quê hương của họ. Họ đã trị vì trong một phần hoặc toàn bộ lãnh thổ của Ai Cập cổ đại, từ năm 760 trước Công nguyên đến 656 trước Công nguyên.[1] vương triều bắt đầu với cuộc xâm lược Kashta ở Thượng Ai Cập và lên đến đỉnh cao trong nhiều năm cả thành công lẫn không thành công trong chiến tranh với người Lưỡng HàĐế chế Assyria. Triều 25 cũng thống trị Hạ Ai Cập, Thượng Ai Cập, và Đế chế Kush (của người Nubia) tạo được một vương quốc Ai cập có lãnh thổ rộng nhất kể từ thời kỳ Tân Vương Quốc. Họ đồng hóa vào xã hội do chính phủ Ai Cập cổ đại, họ theo tôn giáo truyền thống, xây dựng các ngôi đền, và các hình thức nghệ thuật, trong khi đó, họ cũng du nhập một số điểm độc đáo của văn hóa Kush.[2] Suốt thời kỳ của Vương triều 25 thì vùng thung lũng sông Nilelần đầu tiên có thể nhìn thấy được các kim tự tháp kể từ thời Trung Vương quốc.[3][4][5] Sau thời Assyria vua Sargon II và Sennacherib đánh bại những nỗ lực của vua người Nubian để đạt giữ được một vùng đất ở Cận Đông của họ, những người kế nhiệm EsarhaddonAshurbanipal xâm chiếm Ai Cập, đánh bại và rời khỏi Nubia. Chiến tranh với Assyria dẫn đến sự kết thúc của Vương quốc Kush ở phía Bắc Ai Cập và sự chinh phục của Ai Cập vào Assyria.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Pharaon Vương triều XXV
pharaon Tên Ngai Thời gian cai trị (trước Công Nguyên) Kim tự tháp Hoàng hậu
Kashta Maatre khoảng năm 760 – 752 TCN Kurru 8 Pebatjma (Kurru 7?)
Piye Menkheperre Usermaatre khoảng năm 752 – 721 TCN Kurru 17 Tabiry (Kurru 53)

Abar (Từ 53?)
Khensa (Kurru 4)
Peksater (Kurru 54)
Nefrukekashta (Kurru 52)

Shabaka Neferkare 721 TCN – 707 TCN Kurru 15 Qalhata (Kurru 5)
Mesbat
Tabekenamun?
Shebitku Djedkare 707 TCN – 690 TCN Kurru 18 Arty (Kurru 6)
Taharqa Khunefertumre 690 – 664 TCN Hub 1 Takahatenamun (Nuri 21?)

Atakhebasken (Nuri 36)
Naparaye (Kurru 3)
Tabekenamun?

Tantamani Bakare 664 – 656 TCN (chết năm 653 TCN) Kurru 16 Piankharty

[..]salka
Malaqaye? (Nuri 59)

Khoảng thời gian này bắt đầu bởi pharaon Kashta và kết thúc bởi pharaon Malonaqen đôi khi được gọi là Thời kỳ Napatan. Những vị vua cuối cùng của Vương triều thứ 25 đã cai trị các vùng đất là Napata, Meroe, và Ai Cập. Cung điện hoàng gia được đặt ở Napata trong thời gian này, trong khi Meroe cũng là một thành phố lớn. Các vị vua và hoàng hậu đã được chôn cất ở El-Kurru và Nuri.[6]

Kim tự tháp Sudan Meroe. Di sản Thế giới của UNESCO.[7]

Phả hệ[sửa | sửa mã nguồn]

? C+B-Ethiopia-Fig1-RoyalHeaddress.PNG
Alara
Kasaqa C+B-Ethiopia-Fig1-RoyalHeaddress.PNG
Kashta
Pebatjma
Abar Tabiry Double crown.svg
Piye
Khensa Peksater Amenirdis I Neferukakashta Double crown.svg
Shabaka
Shepenupet II Tabekenamun Double crown.svg
Taharqa
Takahatenamun Naparaye Arty Qalhata
Amenirdis II Double crown.svg
Shebitku
Double crown.svg
Tantamani

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Török, László (1998). The Kingdom of Kush: Handbook of the Napatan-Meroitic Civilization. Leiden: BRILL. p. 132. ISBN 90-04-10448-8.
  2. ^ Bonnet, Charles (2006). The Nubian pharaon s. New York: The American University in Cairo Press. pp. 142–154. ISBN 978-977-416-010-3.
  3. ^ Mokhtar, G. (1990). General History of Africa. California, USA: University of California Press. pp. 161–163. ISBN 0-520-06697-9.
  4. ^ Emberling, Geoff (2011). Nubia: Ancient Kingdoms of Africa. New York: Institute for the Study of the Ancient World. pp. 9–11. ISBN 978-0-615-48102-9.
  5. ^ Silverman, David (1997). Ancient Egypt. New York: Oxford University Press. pp. 36–37. ISBN 0-19-521270-3.
  6. ^ Dows Dunham, Notes on the History of Kush 850 BC-A. D. 350, American Journal of Archaeology, Vol. 50, No. 3 (July - September, 1946), pp. 378-388
  7. ^ “Gebel Barkal and the Sites of the Napatan Region”. UNESCO World Heritage Centre. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dodson, Aidan and Hilton, Dyan. The Complete Royal Families of Ancient Egypt. Thames & Hudson. 2004. ISBN 0-500-05128-3.
Vương triều trước Vương triều của Ai Cập Vương triều sau
Vương triều thứ 24 760-656 TCN Vương triều thứ 26