Amphetamin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Amphetamine-2D-skeletal.svg
Amphetamine-3d-CPK.png
1: 1 mixture (racemate)Amphetamine
Tên IUPAC hệ thống
1-phenylpropan-2-amine
Nhận dạng
Số CAS 300-62-9
405-41-4
Mã ATC N06BA01
PubChem 3007
DrugBank DB00182
Dữ liệu hóa chất
Công thức C9H13N 
Phân tử gam 135.2084
SMILES tìm trong eMolecules, PubChem
Đồng nghĩa alpha-methylbenzeneethanamine, alpha-methylphenethylamine, beta-phenyl-isopropylamine
Dữ liệu vật lý
Độ hòa tan trong nước 50–100 mg/mL (16C°) mg/mL (20 °C)
Dữ liệu dược động lực học
Hiệu lực sinh học nasal 75%; rectal 95–99%; intravenous 100%
Liên kết protein 15–40%
Chuyển hóa Hepatic (CYP2D6)[1]
Bán thải 12h average for d-isomer, 13h for l-isomer
Bài tiết Renal; significant portion unaltered
Lưu ý trị liệu
Phạm trù thai sản

?(US)

Tình trạng pháp lý

Controlled (S8)(AU) Schedule I(CA) Class B(UK) Schedule II(US) Theo đơn

Dược đồ Oral, intravenous, vaporization, insufflation, rectal, sublingual

Amphetamin là loại chất kích thích làm tăng tỉnh táo và tập trung, đồng thời làm giảm mệt mỏi và thèm ăn.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Amphetamin được tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1887. Bốn mươi năm sau, đặc tính kích thích của loại thuốc này được khám phá. Sau đó, vào năm 1932, lần đầu tiên nó xuất hiện trên thị trường Hoa Kỳ dưới dạng thuốc hít. Amphetamin trở nên phổ biến vào năm 1937, dưới dạng viên, với tác dụng chữa chứng ngủ rũ.[2][3][4][5][6] Trong suốt Thế chiến thứ 2, amphetamin được sản xuất rất nhiều. Chất này vừa được sử dụng trong chiến tranh để xua tan sự mệt mỏi, vừa để sử dụng bởi các công nhân nhà máy để tăng năng xuất.[7][8]

Synthesis

Sau chiến tranh, có ba quốc gia xuất hiện những "dịch bệnh" lạm dụng amphetamin. Dịch bệnh đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản, bắt đầu từ năm 1945 và đỉnh điểm là năm 1954. Những công ty dược phẩm đã tung ra ngoài thị trường khi quân đội cắt hợp đồng, họ quảng cáo rộng rãi amphetamin cho cộng đồng. Nạn dịch này có tới 2 triệu người sử dụng amphetamin (thường bị quá liều khi dùng theo đường tĩnh mạch) với khoảng 550.000 người nghiện, hầu hết ở độ tuổi từ 16 đến 25. Nạn dịch thứ hay xảy ra ở Thuỵ Điển, cũng có đỉnh điểm vào giữa những năm 50 của thế kỷ 20, nhưng nó được xác nhận bởi phần những ca quá liều dùng theo đường tĩnh mạch tương tự phenmetrazin.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Miranda-G E, Sordo M, Salazar AM (2007). “Determination of amphetaminoe, methamphetamine, and hydroxyamphetamine derivatives in urine by gas chromatography-mass spectrometry and its relation to CYP2D6 phenotype of drug users”. J Anal Toxicol 31 (1): 31–6. PMID 17389081. 
  2. ^ Amphetamines. “Erowid Amphetamines Vault | Effects”. Erowid.org. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2012. 
  3. ^ Amphetamine; Facts | Alcoholism and Drug Addiction Research Foundation, Toronto Canada[[]][liên kết hỏng]
  4. ^ “Amphetamines | Better Health Channel”. Betterhealth.vic.gov.au. 25 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2012. 
  5. ^ “Dextroamphetamine (Oral Route)”. MayoClinic.com. 1 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2012. 
  6. ^ Vitiello B (2008). “Understanding the risk of using medications for attention deficit hyperactivity disorder with respect to physical growth and cardiovascular function”. Child Adolesc Psychiatr Clin N Am 17 (2): 459–74, xi. doi:10.1016/j.chc.2007.11.010. PMC 2408826. PMID 18295156. 
  7. ^ Berman, SM.; Kuczenski, R.; McCracken, JT.; London, ED. (Feb năm 2009). “Potential adverse effects of amphetamine treatment on brain and behavior: a review.”. Mol Psychiatry 14 (2): 123–42. doi:10.1038/mp.2008.90. PMID 18698321. 
  8. ^ “Amphetamines | Merck Sharp & Dohme Corp”. Merckmanuals.com. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]