Chùm ngây

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chùm ngây
Moringa oleifera Blanco1.125.png
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
Bộ (ordo) Brassicales
Họ (familia) Moringaceae
Chi (genus) Moringa
Loài (species) M. oleifera
Danh pháp hai phần
Moringa oleifera
Lam., 1785

Chùm ngây hay ba đậu dại[1] (danh pháp hai phần: Moringa oleifera) là loài thực vật thân gỗ phổ biến nhất trong Chi Chùm ngây (danh pháp khoa học: Moringa) thuộc họ Chùm ngây (Moringaceae), xuất xứ từ vùng Nam Á nhưng cũng mọc hoang và được trồng, khai thác, sử dụng nhiều nơi trên thế giới do có giá trị kinh tế cao.

Trong tiếng Anh, cây chùm ngây có nhiều tên gọi khác nhau như "cây thần diệu" (Miracle tree), "cây kỳ quan" (Wonder tree), "cây vạn năng" (Multipurpose tree), "cây độ sinh" (Tree of life, theo quan điểm nhà Phật), "cây cải ngựa" (Horseradish tree, do rễ non của cây có vị của cải ngựa, mù tạt), "cây dùi trống" (Drumstick tree, do thân/quả cây giống dùi trống), "cây dầu bel" (Bel-oil tree, do dầu ép từ hạt cây được bán với tên gọi bel-oil).

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cây thân mộc cao cỡ trung bình, ở độ tuổi trưởng thành cây có thể mọc cao hàng chục mét. 1 tuổi nếu không cắt ngọn cây có thể cao tới 5-6m và có đường kính 10 cm. 3-4 năm tuổi là cây ở độ tuổi trưởng thành. Thân cây óng chuốt, không có gai. Lá kép dài 30–60 cm, hình lông chim, màu xanh mốc; lá chét dài 12–20 mm hình trứng, mọc đối có 6-9 đôi. Cây trổ hoa vào các tháng 1–2. Hoa trắng kem, có cuống, hình dạng giống hoa đậu, mọc thành chùy ở nách lá, có lông tơ, nhiều mật. Quả dạng nang treo, dài 25–40 cm, ngang 2 cm, có 3 cạnh, chỗ có hạt hơi gồ lên, dọc theo quả có khía rãnh. Hạt màu đen, tròn có 3 cạnh, lớn cỡ hạt đậu Hà Lan.

Hoạt chất và dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Quả chùm ngây tươi
Giá trị dinh dưỡng 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 155 kJ (37 kcal)
Cacbohydrat 8.53 g
Chất xơ thực phẩm 3.2 g
Chất béo 0.2 g
Protein 2.1 g
Nước 88.2 g
Vitamin A quy đổi t.đương 4 μg (0%)
Thiamin (Vit. B1) 0.053 mg (4%)
Riboflavin (Vit. B2) 0.074 mg (5%)
Niacin (Vit. B3) 0.62 mg (4%)
Axit pantothenic (Vit. B5) 0.794 mg (16%)
Vitamin B6 0.12 mg (9%)
Axit folic (Vit. B9) 44 μg (11%)
Vitamin C 141 mg (235%)
Canxi 30 mg (3%)
Sắt 0.36 mg (3%)
Magie 45 mg (12%)
Mangan 0.259 mg (13%)
Phospho 50 mg (7%)
Kali 461 mg (10%)
Natri 42 mg (2%)
Kẽm 0.45 mg (5%)
Link to USDA Database entry
Tỷ lệ phần trăm theo lượng hấp thụ hàng ngày của người lớn.
Nguồn: Cơ sở dữ liệu USDA
Lá chùm ngây tươi
Giá trị dinh dưỡng 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 268 kJ (64 kcal)
Cacbohydrat 8.28 g
Chất xơ thực phẩm 2 g
Chất béo 1.4 g
Protein 9.4 g
Nước 78.66 g
Vitamin A quy đổi t.đương 378 μg (42%)
Thiamin (Vit. B1) 0.257 mg (20%)
Riboflavin (Vit. B2) 0.66 mg (44%)
Niacin (Vit. B3) 2.22 mg (15%)
Axit pantothenic (Vit. B5) 0.125 mg (3%)
Vitamin B6 1.2 mg (92%)
Axit folic (Vit. B9) 40 μg (10%)
Vitamin C 51.7 mg (86%)
Canxi 185 mg (19%)
Sắt 4 mg (32%)
Magie 147 mg (40%)
Mangan 1.063 mg (53%)
Phospho 112 mg (16%)
Kali 337 mg (7%)
Natri 9 mg (0%)
Kẽm 0.6 mg (6%)
Link to USDA Database entry
Tỷ lệ phần trăm theo lượng hấp thụ hàng ngày của người lớn.
Nguồn: Cơ sở dữ liệu USDA


Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, giàu chất đạm, vitamin, beta-caroten, acid amin và nhiều hợp chất phenol. Cây chùm ngây cung cấp một hỗn hợp gồm nhiều hợp chất quý hiếm như zeatin, quercetin, alpha-sitosterol, caffeoylquinic acid và kaempferol[2]. Một số nguồn nghiên cứu cho biết chùm ngây chứa hơn 90 chất dinh dưỡng tổng hợp bao gồm 7 loại vitamin, 6 loại khoáng chất, 18 loại acid amin, 46 chất chống ôxi hóa, liều lượng lớn các chất chống viêm nhiễm, các chất kháng sinh, kháng độc tố, các chất giúp ngăn ngừa và điều trị ung thư, u xơ tiền liệt tuyến, giúp ổn định huyết áp, hạ cholesterol, bảo vệ gan[3].

Lá chùm ngây còn chứa nhiều dưỡng chất hơn cả quả và hoa, tính theo trọng lượng, trong đó vitamin C hơn cam 7 lần, vitamin A hơn cà rốt 4 lần, canxi gấp 4 lần sữa, sắt gấp 3 lần cải bó xôi, đạm nhiều gấp đôi sữa chuapotassium gấp 3 lần trái chuối[4]

Những nghiên cứu về chùm ngây đa số được thực hiện ở Ấn Độ, PhilippinesChâu Phi. Cây được biết đến và sử dụng từ hàng ngàn năm ở các nước có nền văn minh cổ như Hy Lạp, Ý, Ấn Độ. Được xem là một trong những loài cây hữu dụng bậc nhất thế giới[5] do toàn bộ các phần trên cây chùm ngây đều có thể được dùng làm thức ăn hoặc phục vụ cho các mục đích khác nhau, nên chùm ngây hiện đang được khuyến khích trồng ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước nghèo. Rau chùm ngây là nguồn thức ăn tốt cho trẻ sơ sinh và bà mẹ vừa mới sinh con[5].

Các tổ chức phi chính phủ là "Trees for Life International", "Church World Service", "Educational Concerns for Hunger Organization" và "Volunteer Partnerships for West Africa" đã ủng hộ cho cây chùm ngây là "nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho các nước nhiệt đới".[6] Một nhà nghiên cứu đã công bố rằng "bột lá chùm ngây có tác dụng dinh dưỡng và có thể sử dụng để chống lại nạn đói."[6][7][8][9] Cây chùm ngây cho nhiều lá vào cuối mùa khô trong khi các loài cây rau khác thường cho ít lá.[10]

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Nhánh chùm ngây: lá, hoa và quả non

Bản địa chùm ngây là ở vùng sơn cước Hi Mã Lạp Sơn tây bắc Ấn Độ, có lịch sử phát hiện và sử dụng hơn 4000 năm, nhưng ngày nay được trồng rộng rãi ở Phi châu, Trung Mỹ, Nam Mỹ, Đông Nam Á v.v.[cần dẫn nguồn]

Việt Nam chùm ngây là loài duy nhất của Chi Chùm ngây [11] được phát hiện mọc hoang từ lâu đời tại nhiều nơi như Thanh Hóa, Ninh Thuận[12], Bình Thuận[13], vùng Bảy NúiAn Giang, đảo Phú Quốc v.v. Tuy vậy trước đây cây ít được chú ý, có nơi trồng chỉ để làm hàng rào, và chỉ trong vài chục năm trở lại đây khi hạt cây từ nước ngoài được mang về Việt Nam, được trồng có chủ định[14] và qua nghiên cứu người ta thấy cây có nhiều tác dụng đặc biệt nên tưởng là cây mới du nhập[15]

Trồng trọt[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa chùm ngây

Cây chùm ngây rất dễ trồng, có thể trồng từ hạt, hom cành, hom củ và trồng được quanh năm. Vùng thiếu nước nên trồng vào mùa mưa, tức khoảng tháng 4, tháng 5. Cây được trồng nhiều ở những vùng đất khô hạn khắc nghiệt nhiệt đới hoặc bán nhiệt đới. Cây chuộng đất ráo nước, nhiều cát, dù là đất xấu cũng dễ mọc, chịu được hạn hán, ưa nắng, hầu như không bị sâu bệnh hại do đó chăm sóc cây không cần điều kiện gì đặc biệt về phân bón và nước tưới. Tuy nhiên cây không chịu được úng ngập và dễ chết nếu không được thoát nước tốt. Biểu hiện ban đầu của sự dư nước dưới rễ chùm ngây là trên lá cây xuất hiện những đốm trắng, khi đó người trồng cây cần ngưng tưới hoặc tìm cách thoát nước cho cây.

Gỗ chùm ngây khá mềm, giòn nên thân cành dễ bị gãy trong mưa bão. Do đó nếu trồng cây để khai thác sử dụng người trồng thường cắt ngọn cây khi đạt độ cao nhất định, vừa tiện thu hái; vừa kích thích cây đâm tược, nảy cành theo cấp số nhân như tán dù; vừa hạn chế thiệt hại do gãy đổ.

Quả chùm ngây khô đã tách vỏ

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Rau chùm ngây bán tại chợ Philippines

Hầu hết các bộ phận như lá, hoa, quả, hạt, rễ, thân của cây chùm ngây đều hữu dụng với con người. Bằng cách canh tác chùm ngây, nhà nông có thể cải thiện đất xấu. Lá, hoa và quả non của chùm ngây, với rất nhiều dinh dưỡng và nguyên tố vi lượng, được dùng làm thực phẩm cho người và gia súc, giúp xóa đói giảm nghèo, góp phần đảm bảo an ninh lương thực, chống suy dinh dưỡng trẻ em tại các quốc gia đang phát triển.[16].

Món canh của Myanma từ quả chùm ngây

Trong ẩm thực, non và thậm chí cả lá già của chùm ngây được sử dụng để nấu canh với thịt, tôm, nấm hoặc nấu suông (mùi vị tương tự rau ngót), trộn salad, ăn sống, xào thịt, trứng, xay nhuyễn thành nước sinh tố. Lá chùm ngây phơi khô tán bột có thể để rất lâu mà không mất dinh dưỡng, sử dụng cho nhiều món ăn như cháo, bột trẻ em, nhào bột bánh, pha nước uống. Hoa chùm ngây có nhiều mật ngọt và giàu dinh dưỡng, làm rau hoặc phơi khô dùng nấu lấy nước uống như một loại trà. Trái non được dùng xào, nấu canh, hầm xương, ninh súp như đậu cô ve và cho hương vị gần tương tự măng tây. Khi già, hạt chùm ngây có thể rang ăn như đậu phộng. Rễ non của cây ăn sống hoặc làm gia vị như cải ngựa (mù tạt). Tuy nhiên tương tự rau ngót, lô hội, hạn chế sử dụng rau và các chế phẩm từ chùm ngây cho phụ nữ có thai[17].

Tư vấn về thực dưỡng với chùm ngây cho biết khi nấu canh rau chùm ngây chỉ cần vừa chín tới để bảo tồn tốt nhất dưỡng chất, không cần nhiều rau vì lượng dinh dưỡng trong rau rất cao, nêm ít gia vị, không cần hoặc cần rất ít mì chính vì rau có vị ngọt đậm tự nhiên.

Sự chú ý đến công dụng của chùm ngây ngày càng tăng lên tại nhiều quốc gia trên thế giới và trong thực tế, loài cây này đã vượt ra ngoài khuôn khổ là một loại rau mà được sử dụng rộng rãi và đa dạng trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát dinh dưỡng và thực phẩm chức năng[18]. Các quốc gia đang phát triển sử dụng chùm ngây như dược liệu kết hợp chữa hàng trăm loại bệnh hiểm nghèo, bệnh thông thường như phòng và trị ung thư, tiểu đường, thiếu máu, còi xương, tim mạch, kinh phong, sưng tấy, viêm nhiễm, mỡ máu, đau dạ dày, ngừa thai, ung loét, lão hóa, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, trị chứng bất lực và tăng cường khả năng ham muốn tình dục[19]. Thống kê chưa đầy đủ cho thấy chùm ngây có thể được sử dụng để điều trị đến hơn 300 căn bệnh. Đặc biệt, hợp chất zeatin, với năng lực chống lão hóa mạnh mẽ, trong chùm ngây cao gấp vài ngàn lần so với bất kỳ một loại cây nào khác. Thêm vào đó, chùm ngây cũng có 2 loại hợp chất phòng ung thư và chặn đứng sự tăng trưởng của khối u, khiến cây được mệnh danh là loại cây phòng ung thư[20]

Hạt khô của cây có thể được ứng dụng để làm hoạt chất lọc nước hoặc ép lấy dầu. Chất dầu trong hạt có phẩm chất tốt, màu vàng tươi sáng với một hương vị dễ chịu có được so sánh chất lượng với dầu oliver, để rất lâu không hỏng và được sử dụng làm dầu ăn hoặc dầu máy[21]. Tại các vùng ô nhiễm nơi nông thôn nghèo châu Á, châu Phi, hạt chùm ngây thường được nghiền nát hòa vào nước, để lắng, các chất cặn bẩn sẽ bị loại bỏ hoàn toàn. Nước sạch này còn được sát khuẩn do tác dụng của chất dầu cay trong hạt, nên có thể dùng ngay làm nước uống.

Do chùm ngây mọc nhanh, sống được ở những điều kiện đất đai khô cằn và trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chịu được hạn hán, nên nhiều nơi trên thế giới chùm ngây được trồng làm hàng rào xanh che chắn cho các khu sản xuất nông nghiệp, che bóng cho các cây công nghiệp dài ngày, chắn gió, chắn cát. Cây cũng có khả năng cải tạo đất tốt, lá già làm phân hữu cơ và thức ăn bổ sung cho gia súc rất tốt. Dáng cây thon, thân óng, tán đẹp, lá xanh mướt nên còn được trồng làm cảnh.

Tuy thuộc loại mộc nhưng gỗ thân cây mềm, nhẹ, là nguồn nguyên liệu tiềm năng cho kỹ nghệ giấy và còn được dùng để chế phẩm màu xanh.

Sản phẩm thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài các sản phẩm thô của chùm ngây được thương mại hóa bán trên thị trường như lá tươi, quả non, hoa, rễ tươi, rễ khô, cành nhánh phơi khô, vỏ cây khô v.v. cũng đã có nhiều công ty sản xuất thực phẩm dinh dưỡngthực phẩm chức năng từ chùm ngây như nước giải khát dinh dưỡng, trà lá chùm ngây, trà hoa chùm ngây, sản phẩm làm đẹp, viên chùm ngây, bột chùm ngây, dầu, các loại biệt dược v.v.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) (2003). Danh lục các loài thực vật Việt Nam. Tập II. Hà Nội: NXB Nông nghiệp. tr. 425. 
  2. ^ Tác dụng chữa bệnh của cây chùm ngây 5 Vị thuốc từ mâm ngũ quả. Lương y Hoàng Duy Tân Lưu trên caychumngay.com
  3. ^ Giới thiệu một số thông tin về cây chùm ngây Văn Kiếm Nhân
  4. ^ Roland A. Jansen (2012). Second Generation Biofuels and Biomass: Essential Guide for Investors, Scientists and Decision Makers. John Wiley & Sons. tr. 95. 
  5. ^ a ă Ba loài cây thần diệu sẽ là cứu tinh của loài người. Báo điện tử Sức khỏe và đời sống. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2013.
  6. ^ a ă L.J. Fuglie (1999). Moringa: Natural Nutrition for the Tropics. Dakar: Church World Service. 
  7. ^ National Research Council (27 tháng 10 năm 2006). “Moringa”. Lost Crops of Africa: Volume II: Vegetables. Lost Crops of Africa 2. National Academies Press. ISBN 978-0-309-10333-6. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2008. 
  8. ^ Jed W. Fahey (2005). “Moringa oleifera: A Review of the Medical Evidence for Its Nutritional, Therapeutic, and Prophylactic Properties. Part 1.”. Trees for Life Journal. 
  9. ^ Sanford Holst (2011). Moringa (ấn bản 2). Santorini Publishing. ISBN 0-9833279-1-2. 
  10. ^ Moringa oleifera: A Review of the Medical Evidence for Its Nutritional, Therapeutic, and Prophylactic Properties. Part 1. Jed W. Fahey, Sc.D. Trees for Life Journal 2005, 1:5
  11. ^ Lại nói về cây "thần diệu" Moringa Lê Hoàng
  12. ^ Tặng hạt giống và cách trồng chùm ngây báo Thanh Niên, 26/11/2007 15:27, Lương y Nguyễn Công Đức (ĐH Y Dược, TP.HCM)
  13. ^ "Cây chùm ngây" theo Báo Nông nghiệp
  14. ^ Chùm ngây - thực phẩm và cây thuốc tuyệt vời
  15. ^ Cây chùm ngây
  16. ^ National Research Council (27 tháng 10 năm 2006). “Moringa”. Lost Crops of Africa: Volume II: Vegetables. Lost Crops of Africa 2. National Academies Press. ISBN 978-0-309-10333-6. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2008. 
  17. ^ Trong chùm ngây có alpha-sitosterol cấu trúc giống estrogen nên có thể có tác dụng ngừa thai. Khi người phụ nữ có thai, hormon thai nghén là progesterone bài tiết làm mềm tử cung khiến cơ tử cung không co bóp. Còn alpha-sitosterol trong rau chùm ngây gây co cơ trơn tử cung có thể gây sẩy thai.
  18. ^ Tổng hợp một số thông tin về chùm ngây
  19. ^ Thần dược phòng the cho cả quý ông quý bà
  20. ^ Green Superfood From Moringa Tree Can Be Used to Prevent and Treat Over 300 Diseases
  21. ^ Cây độ sinh

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]