Chiến dịch hợp vây Colmar

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến dịch hợp vây Colmar
Một phần của Mặt trận phía Tây trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai
.
Thời gian 20 tháng 1 năm 1945 - 9 tháng 2 năm 1945
Địa điểm Xung quanh Colmar, Alsace
48°4′50″B 7°21′36″Đ / 48,08056°B 7,36°Đ / 48.08056; 7.36000 (Colmar)
Kết quả Thắng lợi quyết định của quân Đồng Minh,[1] Tập đoàn quân số 19 của Đức Quốc xã gần như bị tiêu diệt[2] và rút qua sông Rhine.[3]
Tham chiến
 Pháp
 Hoa Kỳ
 Đức Quốc Xã
Chỉ huy
Hoa Kỳ Jacob Devers
Pháp Jean de Lattre de Tassigny
Pháp Antoine Béthouart
Pháp Goislard de Monsabert
Hoa Kỳ Frank W. Milburn
Đức Quốc Xã Heinrich Himmler
Đức Quốc Xã Siegfried Rasp
Đức Quốc Xã Erich Abraham
Đức Quốc Xã Max Grimmeiss
Lực lượng
Ban đầu: 5 Sư đoàn Bộ binh Pháp
2 Sư đoàn Thiết giáp Pháp
2 Sư đoàn Bộ binh Hoa Kỳ

Viện quân: 1 Sư đoàn Thiết giáp Pháp
1 Sư đoàn Thiết giáp Hoa Kỳ
1 Sư đoàn Bộ binh Hoa Kỳ

7 Sư đoàn Bộ binh
1 Sư đoàn Sơn chiến
1 Lữ đoàn Panzer
Tổn thất
Pháp: 13.390 thương vong[4]
Hoa Kỳ: 8.000 thương vong [5]
Chí ít là 22.000; có nhẽ cao đến 38.500 thương vong[6] (cùng nhiều trang thiết[7])
.

Chiến dịch hợp vây Colmar (tiếng Pháp: Poche de Colmar); (tiếng Đức: Brückenkopf Elsaß) là một chiến dịch tấn công ở Alsace, Pháp trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai do Cụm Tập đoàn quân số 6 của Hoa Kỳ nhằm vào Tập đoàn quân số 19 của Quân đội Đức Quốc xã sau khi Chiến dịch Nordwind của quân Đức thất bại. Các đơn vị liên quân Hoa Kỳ - Pháp thuộc Quân đoàn XXI của Hoa Kỳ và Tập đoàn quân số 1 của Pháp đã đập tan sự chống trả quyết liệt của quân đội phát xít Đức cùng với lực lượng Schutzstaffel trong thời tiết mùa đông khắc nghiệt từ ngày 20 tháng 1 cho đến ngày 9 tháng 2 năm 1945, kết liễu Chiến dịch tấn công cuối cùng của quân Đức trong cuộc Thế chiến thứ hai.

Ban đầu, trước mùa đông lạnh giá cũng như những cuộc tử thủ của các tổ súng máy và những đợt phản công quyết liệt của Đức, cuộc tấn công của 5 Sư đoàn Pháp thất bại và Sư đoàn Bộ binh số 3 của Hoa Kỳ cũng chẳng thu được thắng lợi gì đáng kể. Những khó khăn của Đồng minh Mỹ - Pháp trong cuộc tấn công gợi nhớ đến Chiến tranh thế giới thứ nhất hơn là Chiến tranh thế giới thứ hai này. Trước tình hình đó, Tổng tư lệnh quân lực Đồng Minh Dwight D. Eisenhower phải tăng cường lực lượng cho Cụm Tập đoàn quân số 6 của Hoa Kỳ, và 1 Quân đoàn Hoa Kỳ đã được tăng viện cho lực lượng tấn công của Đồng Minh. Với sự dẫn đầu của Quân đoàn này, quân Đồng Minh lại dồn dập tấn công, nhanh chóng đẩy quân Đức vào tình thế bất lợi và cuối cùng Lãnh tụ (Führer) Adolf Hitler phải ra lệnh rút quân. "Cái túi Colmar" đã bị tiêu hủy.[7][8][9][10][11] Cụm Tập đoàn quân số 6 của Hoa Kỳ đã chịu thiệt hại không nhỏ trong chiến dịch này, tuy nhiên tổn thất của quân đội Đức hãy còn nặng nề hơn[1][12]. Nhìn chung, với chiến dịch hợp vây Colmar, quân đội Đồng minh đã gần như là tận diệt Tập đoàn quân số 19 của Đức.[2] Quân đội Đức cũng chịu thiệt hại nặng về trang thiết.[7]

Với thắng lợi quyết định này, các lực lượng Đồng minh đã làm chủ được hầu hết bờ Tây sông Rhine, trong khi quân Mỹ của tướng Jacob Devers đã có khả năng tấn công nước Đức.[1][8] Quân Đức cuối cùng đã thoát khỏi vòng vây, vượt qua sông Rhine mà về chính quốc - đây là lực lượng nổi bật cuối cùng của Đức rút khỏi đất Pháp.[3]

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

"Cái túi Colmar" hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Bên bờ tây sông Rhine, quân Đức hình thành một đầu cầu dài 40 dặm Anh (65 km) và sâu 30 dặm (50 km) vào tháng 11 năm 1944 khi hàng phòng vệ Đức ở dãy Vosges sụp đổ trước sức tấn công của Cụm Tập đoàn quân số 6 của Hoa Kỳ.[13] Tập đoàn quân số 1 của Pháp dưới quyền Đại tướng Jean de Lattre de Tassigny đã tạo nên lỗ hổng Belfort và tiêu diệt Quân đoàn Không quân IV của Đức gần thị trấn Burnhaupt phía Nam dãy Vosges. Không lâu sau, quân Pháp tiến đến sông Rhien ở khu vực phía Bắc biên giới Thụy Sĩ giữa MulhouseBasel. Đồng thời, ở phía Bắc dãy Vosges, Sư đoàn Thiết giáp số 2 của Pháp dẫn đầu cuộc tiến quân của Tập đoàn quân số 7 của Hoa Kỳ, tạo nên lỗ hổng Saverne, và kéo tới sông Rhine, giải phóng Strasbourg vào ngày 23 tháng 11 năm 944. Chủ ý của hai đợt tiến quân này là để đánh đuổi quân Đức ra khỏi phía Nam Alsace mạn Nam sông Rhine về một đầu cầu hơi tròn nằm giữa thị trấn Colmar được gọi là Cái túi Colmar.

Nhìn nhận của Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài Normandie, những vùng đất Pháp mà quân Đức phòng vệ quyết liệt nhất là Alsace và Lorraine.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Marshall Cavendish,Marshall Cavendish Corporation (COR), Terror and Triumph, trang 20
  2. ^ a ă Frank C. Roberts, Obituaries from the Times, 1951-1960: including an index to all obituaries and tributes appearing in the Times during the years 1951-1960, trang 433
  3. ^ a ă Richard David Wissolik, Katie Killen, They Say There Was A War, trang 528
  4. ^ De Lattre, p. 398
  5. ^ Clarke and Smith, p. 556
  6. ^ Clarke and Smith, p. 556–557.
  7. ^ a ă â Dwight David Eisenhower, Crusade in Europe, trang 374
  8. ^ a ă Franco-Allied Goodwill Committee, France, trang 1H3
  9. ^ Charles Whiting, The other Battle of the Bulge: Operation Northwind, trang 132
  10. ^ Thomas B. Buell, John N. Bradley, Jack W. Dice, John H. Bradle, The Second World War: Europe and the Mediterranean, trang 388
  11. ^ Georges Blond, The death of Hitler's Germany, trang 140
  12. ^ Steven D Mercatante, Why Germany Nearly Won: A New History of the Second World War in Europe, trang 342
  13. ^ Clarke and Smith, p. 486

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Weigley, Russell F (1981) [1974]. Eisenhower's lieutenants: the campaign of France and Germany, 1944-1945. Bloomington: Đại học Indiana Press. ISBN 0253133335. 
  • Williams, Mary H. (compiler) (1994) [1960]. Chronology 1941 - 1945. United States Army in World War II. Washington: Center of Military History, U.S. Army.