David Moyes

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
David Moyes
David Moyes (201551591).jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ David Moyes
Ngày sinh 25 tháng 4, 1963 (51 tuổi)
Nơi sinh Bearsden, Scotland
Vị trí Trung vệ
CLB trẻ
?–1980 Drumchapel Amateurs
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1980–1983 Celtic 24 (0)
1983–1985 Cambridge United 79 (1)
1985–1987 Bristol City 83 (6)
1987–1990 Shrewsbury Town 96 (11)
1990–1993 Dunfermline Athletic 105 (13)
1993 Hamilton Academical 5 (0)
1993–1999 Preston North End 143 (15)
Tổng cộng 535 (46)
Huấn luyện
1998–2002 Preston North End
2002–2013 Everton
2013–2014 Manchester United
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

David William Moyes (sinh ngày 25 tháng 4 năm 1963, tại Glasgow, Scotland) là một huấn luyện viên bóng đá và cũng là một cựu cầu thủ. Ông là Huấn luyện viên xuất sắc nhất năm 2003, 2005 và 2009 của LMA (Hiệp hội Huấn luyện viên của Giải). Ông cũng nằm trong Ban quản lý năng lực thi hành của LMA.[1]

Moyes có tất cả 550 trận đấu ở vai trò trung vệ trong sự nghiệp, nơi ông bắt đầu với Celtic và giành chức vô địch cùng đội bóng này, cũng như với Dunfermline và kết thúc với Preston North End, đội bóng mà ông cũng bắt đầu sự nghiệp cầm quân của mình vào năm 1998.

Sự nghiệp cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Moyes bắt đầu chơi bóng tại Drumchapel Amateur, đến năm 1980 ông bắt đầu sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp tại Giải ngoại hạng Scotland (Scottish Premier League) trong màu áo Celtic, nơi ông giành danh hiệu vô địch trong mùa giải 1981-82.[2] Sau đó, ông phiêu bạc sang khắp các đội bóng khác, lần lượt là:

Moyes kết thúc sự nghiệp cầu thủ tại Preston với 550 trận đấu trong sự nghiệp. Với kinh nghiệm thi đấu của mình, ông được bầu làm trợ lý trước khi cuối cùng được đảm nhận cương vị huấn luyện viên trong năm 1998.

Sự nghiệp huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Preston North End[sửa | sửa mã nguồn]

David Moyes đã tiếp quản vị trí huấn luyện viên của Preston từ tay Gary Peters vào tháng 1 năm 1998 trong tình cảnh câu lạc bộ đang đấu tranh ở giải hạng nhì để chống nguy cơ xuống hạng. Ông đã giúp đội bóng này tránh bị rớt hạng ở cuối mùa giải 1997-1998 và thậm chí đã cùng Preston bước đến trận chung kết giành vé playoffs nhưng cuối cùng đã để thua. Mùa giải tiếp theo, Moyes đã hoàn thành mục tiêu đưa Preston lên giải hạng nhất. Mùa giải sau đó, ông tiếp tục đưa các học trò đến với trận chung kết để tranh xuất playoffs nhưng đã thất bại vào năm 2001 và vào cuối mùa giải sau, Moyes đã tới Everton, để tiếp nhận cương vị huấn luyện từ đồng nghiệp Scot Walter Smith trong tháng 3 năm 2002. Trong sự nghiệp huấn luyện ở đây, Moyes đã dẫn dắt Preston 243 trận đấu trong đó đội bóng của ông đã thắng 113, thua 63 và hòa 67.

Everton[sửa | sửa mã nguồn]

Moyes gia nhập Everton vào ngày 14 tháng 3 năm 2002 và có trận đấu đầu tiên do ông phụ trách trước Fulham tại sân nhà Goodison Park. Everton thắng 2-1, với kỷ lục David Unsworth ghi bàn mở tỉ số chỉ sau ba mươi giây.[3]

Mùa giải đầu tiên (2002-03) tại The Toffees, ông đã đưa Everton leo lên vị trí thứ bảy tại Giải ngoại hạng, thành tích vượt xa vị trí tốt nhất của Everton trong sáu mùa bóng trước đó và ông còn tìm được một tài năng của bóng đá Anh cho câu lạc bộ, Wayne Rooney.

Mùa giải 2007-08, ông giúp Everton lọt vào trận bán kết Cúp Liên đoàn nhưng cuối cùng đã thất bại và không thể vào chung kết. Năm 2009, Everton đánh bại Manchester United trong trận bán kết Cúp FA nhờ loạt đá Penalty[4] nhưng đã để thua Chelsea trong trận chung kết với tỉ số 2-1.[5]

Everton của Moyes khởi đầu mùa giải 2009-10 một cách tồi tệ với trận thua bẽ mặt 6-1 trước Arsenal.[6] Nhưng mùa giải này thật sự thành công đối với đội bóng này khi David cùng các học trò lần lượt đánh bại cả những "ông lớn" như Chelsea (2-1),[7] Manchester United (3-1),[8] và cả đội bóng nhà giàu mới nổi Manchester City (2-0)[9] đều trên sân nhà Goodison Park và kết thúc mùa giải ở vị trí thứ tám với 61 điểm.[10]

Ngày 21 tháng 4 năm 2010, có nhiều nguồn tin thông báo Sir. Alex Ferguson xác nhận rõ ràng rằng Moyes sẽ là người kế nhiệm ông làm huấn luyện viên của Manchester United.[11] Ngày 14 tháng 5, Moyes tiết lộ rằng ông sẽ quan tâm tới việc dẫn dắt câu lạc bộ mình đã khởi nghiệp Celtic trong tương lai.

Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Alex Ferguson tuyên bố nghỉ hưu, ngày 09/05/2013 Manchester United chính thức bổ nhiệm David Moyes là huấn luyện viên trưởng với bản hợp đồng kéo dài 6 năm. Ông đã bắt đầu dẫn dắt câu lạc bộ vào ngày 01/07/2013, ngay sau khi ông hết hợp đồng với CLB Everton. Ngày 11/8/2013 David Moyes đã có được danh hiệu đầu tiên với Manchester United là chiếc cúp Community Shield (Siêu cúp Anh) khi Manchester Utd đánh bại Wigan Athletic với tỉ số 2-0. Khởi đầu suôn sẻ bằng chiến thắng 4-1 trước Swansea City tại đấu trường Ngoại hạng Anh nhưng sau đó Man United của HLV David Moyes không còn giữ được sự thăng hoa đó. Manchester United hòa Chelsea 0-0 trên sân nhà 1-3 trên sân khách , Thua Liverpool 0-1 lượt đi và 3-0 lượt về, thua Manchester City 4-1 trên sân Etihad và 0-3 tại sân nhà và nhiều trận thua không đáng có trước CLB được đánh giá yếu hơn nhiều là West brom albionvà NewCastle United với tỉ số lần lượt là 1-2 và 0-1 trên thánh địa Old Trafford. Tại cúp FA, Manchester United bị loại cay đắng trước Swansea City với tỉ số 1-2, Dừng bước trước Sunderland tại Capital One Cup trong loạt sút Penalty(1-2) sau khi hòa 3-3 qua hai lượt trận. Manchester United của David Moyes chỉ thắng 1 và hòa 2 khi đối đầu với 6 đội đầu bảng xếp hạng gồm chiến thắng gây ngạc nhiên 1-0 trước Arsenal lượt đi- hòa 0-0 lượt về và trận hòa có phần chật vật trước Tottenham 2-2 mà Rooney là người lập cú đúp.

Tại đấu trường UEFA Champions League HLV David Moyes và các học trò vẫn giữ được mạch bất bại họ có 4 trận thắng 2 trận hòa và vựợt qua vòng bảng đáng chú ý nhất là trận lội ngược dòng 3-0 trên sân nhà trước câu lạc bộ Olympiakos với Hat-trick của Robin van Persie sau khi Man United bị thất thủ 0-2 ở lượt đi vòng 1/8. nhưng bị loại ở tứ kết bởi Bayern với tỉ số chung cuộc 4-2.

Lối chơi của Man United bị chỉ trích nặng nề dưới thời Moyes, chơi rời rạc, thiếu tính đột biến và quyết liệt,yếu khi giữ và chuyền bóng. Và đặc sản tạt cánh đánh đầu không cho nhiều hiệu quả của Moyes với kỉ lục là 83 quả tạt mà Quỷ đỏ thực hiện trong trận Man Utd 2-2 Fulham kèm với hàng hậu vệ non kinh nghiệm hay mắc nhiều lỗi, thường xuyên gặp khó khăn trươc những đòn phản công biến ảo của đối thủ từ đội yếu đến đội mạnh. Khác xa so với thời huy hoàng cùng Sir Alex Ferguson.

Ngày 22-4-2014, ông bị CLB sa thải sau 10 tháng làm việc.

Sự nghiệp bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian diễn ra Giải vô địch bóng đá thế giới 2010 tại Nam Phi, Moyes được đài BBC Radio 5 Live chọn để làm bình luận viên.

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Cha của Moyes, David Snr là một trinh sát tại Everton và trước đó là một huấn luyện viên tại Drumchapel Amateur nơi Moyes đã bắt đầu sự nghiệp của mình, nghề nghiệp của ông trong toàn bộ thời gian là một người thảo văn kiện cho đội bóng. Mẹ của Moyes, Joan tới từ Portrush tại Bắc Ireland và làm việc trong các cửa hàng quần áo tại Glasgow.[12] Còn người anh họ David, Dessie Brown là thư ký của câu lạc bộ Coleraine.[13]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng Celtic

Giải bóng đá ngoại hạng Scotland

  • Vô địch – 1981–82[14]
  • Scottish Youth & Schools International
  • English Third Division championship
Cùng Bristol City
  • English Associate Members' Cup Winner (1985–86)
  • English Associate Members' Cup Losing Finalist (1986–87)

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Cùng Preston North End

Giải bóng đá hạng nhì Anh

  • Vô địch – 1999–2000
Cùng Everton

Huấn luyện viên xuất sắc nhất năm của LMA

  • Người chiến thắng: 2002–03, 2004–05, 2008–09[15]

Huấn luyện viên xuất sắc nhất tháng của FA Premier League

  • Người chiến thắng: 9/2004, 1/2006, 2/2008, 2/2009, 1/2010, 3/2010

Huấn luyện viên Tây Bắc xuất sắc nhất năm

  • Người chiến thắng: 2007–08

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “LMA Structure”. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2009. 
  2. ^ “Profile: David Moyes”. London: The Times. 1 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2009. 
  3. ^ “Winning start for Moyes”. BBC Sport. 16 tháng 3 năm 2002. Truy cập 1 tháng 8 năm 2010. 
  4. ^ Tuấn Thành (20 tháng 4 năm 2009). “Everton 'đá văng' M.U khỏi FA Cup sau loạt đấu súng”. Việt Nam net. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2010. 
  5. ^ ĐỨC LỘC (31 tháng 5 năm 2009). “CK Cúp FA, Chelsea - Everton 2-1: Vinh quang của Hiddink”. Thể thao & Văn hóa. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2010. 
  6. ^ Doãn Mạnh (16 tháng 8 năm 2009). “Thắng 6-1, Arsenal khởi đầu như mơ ở Ngoại hạng Anh”. vnExpress. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2010. 
  7. ^ Ngọc Tuấn (11 tháng 2 năm 2010). “Everton ngược dòng đánh bại Chelsea”. vnExpress. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2010. 
  8. ^ Anh Hiển (20 tháng 2 năm 2010). “Everton-M.U 3-1: "Quỷ Đỏ" sập bẫy ở Goodison Park”. Thể thao & Văn hóa. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2010. 
  9. ^ “Man City thua bẽ bàng trên sân Everton”. Bóng đá.com.vn. 17 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2010. 
  10. ^ Bảng xếp hạng - Báo Bóng Đá
  11. ^ Hà Uyên (21 tháng 4 năm 2010). “Alex Ferguson muốn chọn David Moyes làm người kế vị”. vnExpress. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2010. 
  12. ^ Logan, Gabby (19 tháng 5 năm 2009). “BBC Inside Sport Interview”. 
  13. ^ “Seaside memorial for Moyes' mum”. Coleraine Times. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2009. 
  14. ^ “Profile: David Moyes”. London: The Times. 10 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2009. 
  15. ^ “Moyes scoops award”. ThisIsNottingham.co.uk. 26 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]