Manchester City F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Manchester City)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Manchester City
Biểu tượng Manchester City F.C.
Tên đầy đủ Manchester City Football Club
Biệt danh City, The Citizens, The Sky Blues, The Blues
Thành lập 1880, với tên gọi
West Gorton (St. Marks)
Sân vận động Etihad
Manchester, Anh
  — Sức chứa 48.000
Chủ sở hữu Flag of the United Arab Emirates.svg Sheikh Mansour bin Zayed Al Nahyan
Chủ tịch Flag of the United Arab Emirates.svg Khaldoon Al Mubarak
Huấn luyện viên Manuel Pellegrini
Giải đấu FA Premier League
2013-2014 FA Premier League, vô địch
Web http://www.mcfc.co.uk/
Sân nhà
Sân khách

Câu lạc bộ bóng đá Manchester City là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp, đặt trụ sở tại thành phố Manchester, nước Anh. Manchester City đã 2 lần vô địch giải bóng đá Ngoại hạng Anh, 5 lần đoạt cúp FA và 1 lần đoạt cúp C2 châu Âu.

Sân nhà của câu lạc bộ là sân vận động Etihad, với sức chứa khoảng 48.000 khán giả. Biệt danh của câu lạc bộ là "The Citizens" (những người thành phố). Đối thủ truyền thống của Manchester City là câu lạc bộ Manchester United. Hiện nay, câu lạc bộ đang thi đấu tại giải bóng đá Ngoại hạng Anh (Premier League).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Manchester City được thành lập năm 1880 bởi Anna Connel và hai thành viên nhà thờ St. Mark's tại Gorton, một quận phía đông thành phố Manchester. Trước đó St. Mark's chơi bóng bầu dục từ năm 1075. Năm 1887, họ chuyển tới sân mới Hyde Road ở Ardwick tại phía đông trung tâm thành phố và lấy tên mới theo tên nơi ở mới là Ardwick Association Football Club. Ardwick tham gia liên đoàn bóng đá như một trong số thành viên sáng lập giải hạng Hai vào năm 1892. Khó khăn về tài chính làm cho đội bóng phải tái cơ cấu vào mùa bóng 1893-1894, và đổi tên mới Manchester City Football Club.

Vinh quang đầu tiên của Manchester City là vô địch giải hạng Hai và được lên chơi ở giải Hạng nhất là giải hạng cao nhất vào năm 1899. Họ tiếp tục có được vinh quang đầu tiên vào 23.4.1904 khi đánh bại Bolton Wanderers với tỉ số 1–0 tại Crystal Palace để giành FA Cup.

Một vụ hỏa hoạn ở Hyde Road năm 1920 đã phá hủy khán đài chính của sân, và năm 1923 đội bóng chuyển tới sân mới Maine Road.

Vào thập kỉ 1930s, Manchester City hai lần vào chung kết FA Cup. Họ thua Everton năm 1933 và thắng Portsmouth để giành Cup năm 1934. Manchester City vô địch giải hạng nhất lần đầu tiên vào năm 1937. Nhưng ngay ở mùa bóng sau họ lại bị xuống hạng dù ghi nhiều bàn thắng hơn bất cứ đội nào trong giải đấu.

20 năm sau, Manchester City chơi theo hệ thống chiến thuật gọi là Revie Plan (đặt theo tên Don Revie). Họ lại 2 lần vào chung kết FA Cup vào năm 1955 và 1956 như hồi những năm 1930. Trận đầu họ thua Newcastle United, trận thứ 2 họ thắng Birmingham City 3–1.

Sau khi bị xuống hạng lần thứ hai vào năm 1963, họ rơi vào thảm cảnh khi khán giả đến sân thấp kỉ lục 8015 người khi họ tiếp Swindon Town vào tháng 1.1965. Mùa hè năm 1965 ban chỉ đạo đội bóng gồm Joe MercerMalcolm Allison được bổ nhiệm. Mùa bóng đầu tiên dưới quyền của họ, Manchester City vô địch hạng hai. Hai mùa sau, 1967-1968, Manchester City vô địch hạng nhất lần thứ 2, với trận thắng Newcastle United 4-3 trong vòng thi đấu cuối cùng, qua đó khiến người hàng xóm Manchester United phải về nhì.

Năm 1969, Manchester City giành FA Cup, và năm 1970 họ giành Cup C2 bằng trận thắng Górnik Zabrze của Ba Lan 2–1 tại Viên. Cùng năm đó Manchester City đoạt Cúp Liên đoàn bóng đá Anh, trở thành đội thứ 2 ở Anh đoạt Cup châu Âu và Cup nội địa trong cùng một mùa bóng.

Đội bóng tiếp tục gặp gặt hái thành công trong thập kỉ 1970. Họ chỉ cách chức vô địch 1 điểm và vào chung kết Cup Liên đoàn vào năm 1974. Trong trận đấu quyết định đáng nhớ mùa bóng 1973-1974 với đối thủ truyền kiếp Manchester United đang cần phải thắng để duy trì hi vọng trụ hạng, cựu cầu thủ của Manchester United Denis Law đã ghi bàn duy nhất giúp họ hạ Man Đỏ 1-0 và đẩy đối thủ xuống hạng. Vinh quang cuối cùng của thời kỳ này là Cup Liên đoàn năm 1976 với chiến thắng 2-1 trước Newcastle United trong trận chung kết.

Sau đó là thời kì tụt dốc. Malcolm Allison trở lại đội bóng vào năm 1979, nhưng chi tiền kí hàng loạt hợp đồng không thành công, như Steve Daley. Rồi có tới 7 huấn luyện viên thay nhau chỉ tính riêng trong thập kỉ 1980. Người đầu tiên là John Bond kế tục Allison vào tháng 10 năm 1980. Dưới thời Bond, Manchester City lọt vào chung kết FA Cup năm 1981 và thua Tottenham Hotspur trong trận đấu lại. Mùa bóng sau đó họ khởi đầu tốt và đứng đầu bảng xếp hạng cho tới Giáng sinh nhưng tới cuối mùa chỉ cán đích ở giữa bảng. Manchester City bị xuống hạng ở mùa bóng tiếp theo và trở lại sau 2 năm. Họ lại xuống hạng 2 năm sau đó và trở lại vào năm 1989. Họ đứng thứ 5 năm 1991 và 1992 dưới thời huấn luyện viên Peter Reid. Dưới thời Peter Reid, Manchester City tham gia giải bóng đá ngoại hạng Anh đầu tiên năm 1992, nhưng chỉ đứng thứ 9 trong mùa đầu tiên, thi đấu trầy trật trong 3 mùa tiếp theo và bị xuống hạng năm 1996. Năm 1998, họ tụt xuống giải hạng Hai và trở thành đội bóng giành Cup châu Âu đầu tiên phải xuống chơi ở giải hạng ba trong nước.

Sau khi xuống hạng, đội bóng có sự khởi sắc trở lại nhờ chủ tịch mới David Bernstein và trở lại đầy ngoạn mục sau trận play-off thắng Gillingham. Mùa tiếp theo họ được trở lại giải đấu cao nhất nhưng chưa thể phục hồi như trước đây, và bị lại xuống hạng Nhất vào năm 2001. Kevin Keegan đến làm huấn luyện viên mới của đội bóng và ngay lập tức gặt hái thành công, giúp đội vô địch hạng Nhất với số điểm và số bàn thắng kỷ lục trong mùa bóng 2001-02.

Mùa bóng 2002-03 là mùa bóng cuối cùng của Man xanh ở sân Maine Road, đáng nhớ là chiến thắng 3-1 trong trận derby với kình địch Manchester United, chấm dứt 13 năm không thắng trong các trận derby. Man xanh còn giành quyền chơi ở Cup châu Âu lần đầu tiên sau 25 năm và chuyển đến sân mới City of Manchester Stadium. Mùa bóng đầu tiên ở sân mới họ đứng giữa bảng xếp hạng. Cựu huấn luyện viên đội tuyển Anh Sven-Göran Eriksson trở thành huấn luyện viên người nước ngoài đầu tiên của Man xanh, được bổ nhiệm năm 2007. Hàng loạt ngôi sao thi đấu nhạt nhòa khiến đội bóng xếp nửa dưới bảng xếp hạng vào nửa sau mùa bóng khiến Eriksson bị sa thải năm 2008. Hai ngày sau, tức là ngày 4 tháng 6 năm 2008, Eriksson bị thay thế bởi Mark Hughes.

Tháng 8 năm 2008, đội bóng được mua bởi tập đoàn Abu Dhabi United. Ngay lập tức đội bóng mua những cầu thủ đắt giá, phá vỡ kỉ lục chuyển nhượng tại Anh với việc mua tuyển thủ Brazil Robinho từ Real Madrid với giá £32,5 triệu. Đội bóng kết thúc mùa giải với vị trí thứ 10, và lọt vào tứ kết UEFA Cup. Mùa hè năm 2009 đội bóng tiếp tục mua cầu thủ mới, và tiêu hơn 100 triệu bảng để có Gareth Barry, Roque Santa Cruz, Kolo Touré, Emmanuel Adebayor, Carlos TévezJoleon Lescott.

Ngày 19.12.2009 Mark Hughes bị thay thế bằng Roberto Mancini. Manchester City kết thúc mùa bóng ở vị trí thứ 5, suýt giành được quyền chơi ở Champions League mùa sau. Trước khi mùa bóng 2010-2011 bắt đầu, Manchester City đã kí hợp đồng với Jérôme Boateng, Yaya Touré, David Silva, Aleksandar Kolarov, James MilnerMario Balotelli.

Trong những vòng đấu đầu tiên của mùa bóng năm 2010-2011, đội Man xanh hiện đang ở tốp đứng đầu nhưng vẫn thể hiện phong độ chưa thật ổn định. Họ đã thắng các đội bóng lớn là FC Liverpool và Chelsea nhưng lại thua những đội yếu là Wolvehampton và Birmingham City. Đến cuối mùa bóng, Manchester City chơi ổn định hơn, kết thúc mùa giải với vị trí thứ 3 được 71 điểm (bằng điểm đội thứ nhì Chelsea và kém đội vô địch Manchester United 9 điểm). Tại bán kết FA Cup, Manchester City đã đánh bại đội bóng kình địch cùng thành phố Manchester United với tỷ số 1-0. Trong trận chung kết, Manchester City đã hạ Stoke City với tỉ số tương tự để đoạt Cup FA lần thứ 5 trong lịch sử đội bóng.

Vào mùa bóng 2011-2012, Manchester City tiếp tục được tăng cường lực lượng. Họ thi đấu khá thành công và liên tục dẫn đầu, nhưng tới vòng thứ 28 thì để thua trận thứ 4 trong mùa bóng và bị kình địch Man đỏ vượt lên trên, phải tạm xếp thứ 2 với 66 điểm, ít hơn 1 điểm so với đối thủ. Nhưng đến vòng 36, Man xanh đã thắng Man đỏ trong cuộc đối đầu trên sân nhà (lượt đi đã thắng 6-1 tại Old Trafford) và lấy lại ngôi đầu với 83 điểm (cao hơn đối thủ về hiệu số bàn thắng bại). Đến vòng cuối cùng, đội Man xanh đã có một trận đấu nghẹt thở với đối thủ cần điểm để trụ hạng Queen Park Ranger. Với bàn thắng ấn định tỷ số 3-2 tại phút bù giờ cuối cùng, Agüero cầu thủ mang áo số 16 người Agentina đã đưa Man xanh trở thành nhà Vô địch giải Ngoại hạng Anh mùa bóng 2011-2012 sau 44 năm chờ đợi.

Nhưng tại giải Cup FA Manchester City đã phải dừng bước ở tứ kết trước Man đỏ và tại Cup Liên đoàn, họ bị Liverpool loại ở bán kết. Tại Champions League, họ chơi không thành công và sau vòng bảng phải xuống chơi ở Europa League. Tại Europa League, họ đã vượt qua đương kim vô địch Porto của Bồ Đào Nha ở vòng loại trực tiếp đầu tiên nhưng sau đó bị một đối thủ Bồ Đào Nha khác là Sporting Lisbon loại ở vòng tiếp theo bằng luật bàn thắng sân khách.

Mùa bóng 2012/13, Manchester City F.C. thi đấu không thành công như kỳ vọng so với mùa trước tại giải trong nước và đã để kình địch Man đỏ giành lại ngôi vô địch ở vòng 34. Kết thúc mùa bóng, Man xanh chỉ được 78 điểm, kém đối thủ cùng thành phố 11 điểm. Tại giải FA Cup, Manchester City đã lọt vào chung kết và để thua đội bóng bị xuống hạng Wigan Athletic F.C. tại sân vận động Wembley. Tại đấu trường châu Âu, một lần nữa Manchester City lại thất bại nặng nề hơn giải trước khi họ đứng cuối bảng ở Champions League và bị loại.

Ở mùa bóng 2014-2015,Manchester City F.C thi đấu xuất sắc khi họ giành Cup Liên Đòan sau khi hạ "mèo đen" Sunderland tại chung kết với tỉ số 3-1.Ở đấu trường Châu Âu,Man xanh thi đấu tốt hơn mùa trước khi lần đầu tiên trong lịch sử lọt vào vòng 16 đội nhưng lại bị loại trước F.C Barcelona.Còn tại Premier League,họ thi đấu khá tệ ở các vòng đấu cuối,tệ nhất là trân thua trước Liverpool 3-2 và Sunderland hòa 2-2 đã khiến Man xanh bị Lữ đòan đỏ vượt lên dẫn đầu,thế nhưng 2 trận thắng liên tiếp,đặc biệt là trận thắng trước Aston Villa đã giúp Man xanh chiếm được ưu thế lờn trước vòng cuối vời West Ham.Ở vòng cuối,Man xanh đã thắng West Ham 2-0 sau các bàn thắng của Samir Nasri và Vincent Kompany.Man City đã giành chức vô địch khi giành được 86 điểm,hơn Liverpool 2 điểm.

Nhưng tại cúp FA,Man City lại nhận thất bại trước Wigan vời tỉ số 1-2 và dừng bước ở tứ kết.

Biểu tượng và màu trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Manchester City có màu xanh da trời và trắng. Màu truyền thống trước đây là màu hạt dẻ hoặc (từ những năm 1960) là đỏ và đen, đến gần đây nhiều màu khác được sử dụng. Màu nguyên bản ban đầu không rõ là màu gì, nhưng có bằng chứng về màu xanh nhạt từ năm 1892 hoặc sớm hơn.

Một cuốn sách mang tên Famous Football Clubs – Manchester City xuất bản những năm 1940 cho biết đầu tiên West Gorton (St. Marks) chơi bóng trong mày áo hồng và đen, còn các báo cáo từ năm 1881 mô tả đội bóng mặc áo đen có sọc trắng, biểu thị màu nguyên bản như một đội bóng nhà thờ.

Màu đỏ và đen do trợ lí huấn luyện viên Malcolm Allison mang đến, ông được coi là người muốn truyền cảm vinh quang cho Manchester City từ đội AC Milan.[1]

Biểu tượng hiện tại của đội bóng được thông qua từ năm 1997, do biểu tượng cũ không đủ tiêu chuẩn để đăng ký thương hiệu.

Trước đây đội bóng từng mang cả 2 biểu tượng trên áo đấu. Biểu tượng đầu tiên được đưa ra từ năm 1970, dựa trên những thiết kế được dùng trên văn bản chính thức của câu lạc bộ từ giữa những năm 1960.

Logo của đội bóng </gallery>

Thiết kế hai vòng tròn lồng vào nhau xuất hiện trên huy hiệu của Manchester City gần như suốt những năm của thế kỷ 20. Trong cả hai logo đều xuất hiện hình ảnh chiếc thuyển biểu tượng cho Manchester Ship Canal, tuy nhiên phía dưới thì khác nhau. Hình trái có ba gạch chéo biểu tượng cho 3 dòng sông chảy qua thành phố Manchester là Irwell, Irk và Medlock, trong khi hình phải thì có bông hồng đỏ đặc trương của Lancashire. Đến năm 1998, Manchester City thiết kế lại gần như hoàn toàn logo của đội bóng và được sử dụng cho đến ngày nay. Điểm nổi bật trong logo này là hình ảnh chú đại bàng có thể hiểu là biểu tượng quốc huy cũ của thành phố hoặc cũng có thể hiểu là đại diện cho ngành hàng không đang trên đà phát triển của thành phố. Trên đỉnh logo có ba ngôi sao còn ở trung tâm là tấm khiên vẽ hình ảnh gần như giống với logo của những năm đầu thế kỷ 20. Dưới cùng là dòng chữ Latin mang ý nghĩa "niềm kiêu hãnh trong chiến đấu".

Chủ sở hữu[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bóng thực chất là Công ty tư nhân Manchester City F.C., Manchester City Limited, với tổng cộng 57 triệu cổ phần. Công ty hiện tại nằm dưới quyền sở hữu của một số hữu hạn tư nhân từ năm 2007, khi đa số các cổ đông đồng ý bán cổ phiếu cho UK Sports Investments Limited (UKSIL) nằm dưới quyền sở hữu của cựu thủ tướng Thái Lan Thaksin Shinawatra. UKSIL đã đưa ra lời đề nghị mua lại cổ phiếu từ hàng nghìn cổ đông nhỏ lẻ.

Ông Thaksin đã bỏ ra £81.6 triệu để mua câu lạc bộ[2]. Sau đó một năm, ông đã bán lại cho Abu Dhabi United Group Investment và Development Limited có trụ sở tại Abu Dhabi với giá trị £200 triệu.

Cổ động viên[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ có đội ngũ cổ động viên khá đông đảo dù thành tích quá khứ trên bảng xếp hạng không cao. Trung bình số khán giả tham dự các trận bóng là 40 ngàn người, nằm trong 6 đội có số khản giả đến sân đông nhất.[3]

Bài hát của cổ động viên là bài "Blue Moon".

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động trước kia của Manchester City có tên City of Manchester đã được đổi thành Etihad, sau khi ban lãnh đạo đội bóng nước Anh đạt được thỏa thuận với hãng hàng không Etihad (hãng hàng không quốc gia của Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất) với thời hạn hợp tác 10 năm.[4]

Toàn cảnh sân vận động Etihad

Các cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
1 Anh TM Joe Hart
2 Anh HV Micah Richards
3 Pháp HV Bacary Sagna
4 Bỉ HV Vincent Kompany (Đội trưởng)
5 Argentina HV Pablo Zabaleta (Đội phó)
6 Brasil TV Fernando
7 Anh TV James Milner
8 Pháp TV Samir Nasri
9 Tây Ban Nha Álvaro Negredo
10 Bosna và Hercegovina Edin Džeko
11 Serbia HV Aleksandar Kolarov
12 Anh TV Scott Sinclair
13 Argentina TM Willy Caballero
15 Tây Ban Nha TV Jesús Navas
 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
16 Argentina Sergio Agüero
18 Anh TV Frank Lampard (mượn từ New York City FC)
20 Pháp HV Eliaquim Mangala
21 Tây Ban Nha TV David Silva
22 Pháp HV Gaël Clichy
25 Brasil TV Fernandinho
26 Argentina HV Martín Demichelis
29 Anh TM Richard Wright
33 Serbia HV Matija Nastasić
35 Montenegro Stevan Jovetić
38 Bỉ HV Dedryck Boyata
42 Côte d'Ivoire TV Yaya Touré
60 Thụy Điển John Guidetti

Cầu thủ cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
19 Hà Lan HV Karim Rekik (cho mượn tới PSV Eindhoven đến hết mùa giải 2014–15)
36 Argentina TV Bruno Zuculini (cho mượn tới Valencia đến hết mùa giải 2014–15)
52 Wales TV Emyr Huws (cho mượn tới Wigan đến 31 tháng Mười Hai 2014)
64 Bồ Đào Nha TV Marcos Lopes (cho mượn tới Lille đến hết mùa giải 2014–15)

Số áo được vinh danh[sửa | sửa mã nguồn]

 Số áo   Vị trí Tên cầu thủ
23 Cameroon TV Marc-Vivien Foé (vinh danh sau khi mất)

Từ năm 2003, Manchester City không sử dụng số áo 23. Số áo này để tưởng nhớ Marc-Vivien Foé, cầu thủ đang khoác áo câu lạc bộ (dưới hình thức cho mượn từ Lyon) và qua đời trên sân bóng trong màu áo đội tuyển quốc gia Cameroon tại giải 2003 Confederations Cup.[5]

Ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên
Huấn luyện viên Chile Manuel Pellegrini
Trợ lý huấn luyện viên Argentina Rubén Cousillas
Trợ lý huấn luyện viên/huấn luyện viên đội một Anh Brian Kidd
huấn luyện viên thủ môn Tây Ban Nha Xabier Mancisidor
huấn luyện viên thể lực Tây Ban Nha Jose Cabello
Giám đốc phát triển U-21 Pháp Patrick Vieira
Giám đốc học viện Platt Lane Anh Mark Allen
Giám đốc học viện Anh Scott Sellars

Cựu huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách này chỉ bao gồm các huấn luyện viên đoạt ít nhất một danh hiệu cùng Manchester City (chỉ tính các giải đấu chính thức):[6]

Tính đến 13-5-2013
Tên Từ Đến Số trận Thắng Hòa Thua  % Thắng Danh hiệu
Scotland Tom Maley
1902 1906 &0000000000000150.000000150 &0000000000000089.00000089 &0000000000000022.00000022 &0000000000000039.00000039 &0000000000000059.33000059,33 1904 FA Cup
Anh Wilf Wild
1932 1946 &0000000000000352.000000352 &0000000000000158.000000158 &0000000000000071.00000071 &0000000000000123.000000123 &0000000000000044.89000044,89 1934 FA Cup
1936–37 First Division
1937 Charity Shield
Scotland Les McDowall
1950 1963 &0000000000000592.000000592 &0000000000000220.000000220 &0000000000000127.000000127 &0000000000000245.000000245 &0000000000000037.16000037,16 1956 FA Cup
Anh Joe Mercer
1965 1971 &0000000000000340.000000340 &0000000000000149.000000149 &0000000000000094.00000094 &0000000000000097.00000097 &0000000000000043.82000043,82 1965–66 Second Division
1967–68 First Division
1968 Charity Shield
1969 FA Cup
1970 European Cup Winners' Cup
1970 League Cup
Anh Tony Book
1973 1980 &0000000000000269.000000269 &0000000000000114.000000114 &0000000000000075.00000075 &0000000000000080.00000080 &0000000000000042.38000042,38 1976 League Cup
Ý Roberto Mancini
2009 2013 &0000000000000191.000000191 &0000000000000113.000000113 &0000000000000038.00000038 &0000000000000040.00000040 &0000000000000059.16000059,16 2011 FA Cup
2011–12 Premier League{
2012 FA Community Shield

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Turner, Georgina (23 November 2005). "Nicking the shirts off their backs". The Guardian (London). http://football.guardian.co.uk/theknowledge/story/0,13854,1643916,00.html. Retrieved 18 December 2006.
  2. ^ BBC NEWS | Business | Thaksin completes Man City buyout
  3. ^ Top 30 English Football Clubs by League Attendances | The Political Economy of Football
  4. ^ Man City đổi tên sân vận động VnExpress. 9/7/2011. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2011.
  5. ^ “Man City retire number 23 shirt”. BBC Sport. 27 tháng 6 năm 2003. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2008. 
  6. ^ “Managers”. mcfcstats.com. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2006. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Anh)