Yaya Touré

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yaya Touré
Yaya Toure 9229.JPG
Yaya Touré thi đấu cho Bờ Biển Ngà
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Gnégnéri Yaya Touré
Ngày sinh 13 tháng 5, 1983 (31 tuổi)
Nơi sinh Sekoura Bouaké, Bờ Biển Ngà
Chiều cao 1,88 m (6 ft 2 in) [1]
Vị trí Tiền vệ phòng ngự
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Manchester City
Số áo 42
CLB trẻ
1996–2001 ASEC Mimosas
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
2001–2003 Beveren 70 (3)
2003–2005 Metalurh Donetsk 33 (3)
2005–2006 Olympiacos 26 (3)
2006–2007 Monaco 27 (5)
2007–2010 Barcelona 74 (4)
2010– Manchester City 96 (18)
Đội tuyển quốc gia
2004– Côte d'Ivoire 78 (16)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 19:23, 27 April 2013 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 13:30, 16 June 2013 (UTC)

Gnégnéri Yaya Touré (sinh ngày 13 tháng 5 năm 1983Sekoura Bouaké) là một tiền vệ người Bờ Biển Ngà hiện đang là cầu thủ của Manchester City. Anh là một tiền vệ lùi với tố chất mạnh mẽ, không ngại va chạm. Anh là cầu thủ người Bờ Biển Ngà đầu tiên chơi cho Barcelona. Anh là em trai của người đồng đội tại câu lạc bộ Manchester City, Kolo Toure. Toure cũng có một người em trai tên Ibrahim Touré hiện đang chơi cho Al-Ittihad.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Toure gia nhập lò đào tạo trẻ ASEC Mimosas năm 1996. Anh sau đó chuyển tới Bỉ để chơi cho KSK Beveren theo một bản hợp đồng có thời hạn 2 năm rưỡi và sau đó là thêm một năm rưỡi cùng đội bóng Ukraina Metalurh Donetsk.

Olympiakos[sửa | sửa mã nguồn]

Toure sau đó chuyển tới Olympiakos vào năm 2005. Anh được đặt biệt danh là "Patrick Viera mới" bởi người anh Kolo Toure. Trước mùa giải 2005-06, anh có tham gia một quãng thời gian tập luyện cùng Arsenal, xong không được ban lãnh đạo kí hợp đồng hẳn. Anh cũng được Eurosport bầu vào năm 2005 là một trong những tài năng hứa hẹn nhất thế giới, bản danh sách gồm có cả Javier MascheranoSergio Agüero.

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Toure gia nhập FC Barcelona với mức giá 9 triệu euro và có trận ra mắt gặp Racing de Santander.

Toure có bàn thắng đầu tiên trong trận gặp Inter Milan ở cúp Joan Gamper. Anh chính thức ghi bàn thắng đầu tiên ở La Liga trong trận gặp Athletic Bilbao vào ngày 2 tháng 9 năm 2007. Bàn thắng đầu tiên của anh ở cúp C1 là trong trận gặp FC Schalke 04 ở tứ kết cúp C1 mùa giải 2007-08.

Đầu mùa giải 2008-09, huấn luyện viên Josep Guardiola muốn dùng Sergio Busquets ở vị trí tiền vệ trung tâm và bắt đầu rấy lên những tin đồn về việc Toure có thể ra đi, xong anh đã tận dụng được cơ hội và thi đấu tốt khi bước vào năm mới. Ở trận chung kết cúp C1 mùa giải 2008-09, Toure đã được đưa về để đá trung vệ và đã khoá chặt Wayne Rooney, góp công vào chiến thắng 2-0 của Barca trước Manchester United.

Manchester City[sửa | sửa mã nguồn]

Hè 2010 sau khi kết thúc World Cup, Yaya Toure đã được FC Barcelona bán cho câu lạc bộ Manchester City với giá 24 triệu Euro. S (Ở đó có Kolo Touré, anh trai của Yaya đang chơi ở vị trí trung vệ)

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

ASEC Mimosas[sửa | sửa mã nguồn]

Olympiacos[sửa | sửa mã nguồn]

Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Player Profile: Yaya Touré”. Premier League. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2012.