Abédi Pelé

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Abedi Pele
Abédi Pélé (cropped).jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Abedi Ayew
Vị trí Tiền vệ
CLB trẻ
197?–1978 Great Falcons
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1980–1982 Real Tamale 46 (21)
1982–1983 Al Sadd 8 (7)
1983–1984 Zürich 18 (9)
1984 Dragons l'Ouémé 8 (11)
1985 Real Tamale United 19 (7)
1987 Mulhouse 16 (5)
1987–1989 Marseille 9 (0)
1988–1990 Lille OSC 61 (16)
1990–1993 Marseille 103 (23)
1993–1994 Olympique Lyonnais 29 (3)
1994–1996 Torino 49 (11)
1996–1998 TSV 1860 München 50 (2)
1998–2000 Al Ain 31 (28)
Tổng 479 (157)
Đội tuyển quốc gia
1982–1998 Đội tuyển bóng đá quốc gia Ghana 67 (33[1])
Đội quản lý
2004– Nania F.C. (Head Coach and President)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
.
† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

Abédi Ayew, cũng được biết đến với tên Abédi "Pelé" (sinh 5 tháng 11 năm 1964) từng là đội trưởng Đội tuyển bóng đá quốc gia Ghana|Ghana]]. Anh từng 3 lần liên tiếp đạt giải cầu thủ xuất sắc nhất châu Phi (1991-1993). Và hơn nữa, tháng 3 năm 2004 anh được bầu vào danh sách FIFA 100. Anh là anh trai của Kwame Ayew và là cha của Andre Ayew, đều là cầu thủ bóng đá nổi tiếng ở Ghana.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Anh sinh ra trong một gia đình ở một ngôi làng nhỏ có tên là Oko, phía bắc ngoại ô thủ đô Accra. Anh vừa phải đi học và vừa phải đi làm để giúp mẹ vì gia đình anh rất nghèo. Anh chơi bóng cho đội bóng đá ở trường và sớm thể hiện được tài năng nên được coi là tài năng trẻ của thành phố. Anh đã chơi cho đội trẻ của câu lạc bộ Great Falcons và anh đá giành được giải thưởng tài năng trẻ xuất sắc nhất năm 1978 của Liên đoàn bóng đá Ghana. Trong năm đó anh bắt đầu lên học ở trường trung học Tamale, và bắt đầu sự nghiệp thi đấu chuyên nghiệp của mình tại câu lạc bộ Real Tamale United ở giải vô địch trong nước.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Abédi Ayew là một trong những cầu thủ châu Phi đầu tiên sang thi đấu ở châu Âu. Anh từng chơi bóng ở Thụy Sĩ, Đức, Ý nhưng thành công hơn cả là ở Pháp. Tại Pháp nơi mà anh cùng Marseille chơi rất thành công ở châu Âu trong những năm đầu của thập niên 1990. Năm 1993 anh đoạt cúp C1 sau khi thắng AC Milan ở trận chung kết. Anh cũng là đội trưởng của đội các ngôi sao châu Phi giành thắng lợi trước đội các ngôi sao châu Âu trong Meridian Cup năm 1997.

Năm 1982 anh cùng đội tuyển Ghana giành cúp vô địch châu Phi, nhưng anh lại chưa một lần được xuất hiện ở đấu trường World Cup. Anh là người đang nắm giữ kỉ lục số lần tham gia giải bóng đá vô địch châu Phi (nay gọi là Can) với 5 lần (1982-1998), xếp trên huyền thoại Roger Milla của Cameroon. Trong sự nghiệp anh thi đấu cho đội tuyển quốc gia 73 trận và ghi được 33 bàn.

Anh kết thúc sự nghiệp bóng đá của mình vào năm 2000.

Danh hiệu và giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

  • C1: 1993 [1]
  • Hạng nhì C1: 1991
  • Vô địch Pháp (Ligue 1): 1988/1989, 1989/1990, 1990/1991, 1991/1992
  • Cup quốc gia Pháp: 1989
  • Cup Qatar với Al-Sadd Winner: 1983
  • Emir's Cup với Al-Ain 1998/99

Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vô địch châu Phi: 1982
  • Hạng nhì châu Phi: 1992
  • Hạng tư châu Phi: 1992

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

  • FIFA 100
  • Cầu thủ hay nhất châu Phi: 1991, 1992, 1993
  • Cầu thủ hay thứ 3 của Châu phi mọi thời đại
  • Cầu thủ nước ngoài hay nhất Serie A: 1995/96
  • Cầu thủ hay nhất giải vô địch châu Phi 1992
  • Tài năng trẻ Ghana: 1978
  • Khoác áo đội quốc gia nhiều nhất: 73 (33)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Abedi Pelé Ghana's brightest Black Star”. FIFA. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2011.