Ole Gunnar Solskjær

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ole Gunnar Solskjær
Ole Gunnar Solskjaer Trondheim2011-1.jpg
Solskjaer năm 2011
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Ole Gunnar Solskjær
Ngày sinh 26 tháng 2, 1973 (41 tuổi)
Nơi sinh Kristiansund, Na uy
Chiều cao 1,78 m (5 ft 10 in)
Vị trí Tiền đạo
Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
CLB hiện nay Molde (Huấn luyện viên)
CLB trẻ
1989–1990 Clausenengen
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1990–1994 Clausenengen 109 (115)
1994–1996 Molde 42 (31)
1996–2007 Manchester United 235 (91)
Tổng cộng 386 (272)
Đội tuyển quốc gia
1995–2007 Na Uy 67 (23)
Huấn luyện
2008–2011 Đội dự bị Manchester United
2011–2014 Molde
2014– Cardiff City
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Ole Gunnar Solskjær (sinh ngày 26 tháng 2 năm 1973 tại Kristiansund, Møre og Romsdal) là một huấn luyện viên bóng đá người Na Uy và là cựu cầu thủ bóng đá đã dành phần lớn sự nghiệp của mình cho CLB Manchester United, ông thường gọi với biệt danh là "sát thủ có gương mặt trẻ thơ". Hiện tại, ông là huấn luyện viên của câu lạc bộ Cardiff City. Ông đã xuất hiện 366 lần trong màu áo Quỷ đỏ và ghi được 126 bàn thắng. Solskjær đã xuất hiện từ băng ghế dự bị trong trận chung kết UEFA Champions League 1999, khi ông ghi được một bàn thắng vào phút bù giờ cuối cùng với CLB Bayern Munich, hoàn tất một sự trở lại đáng chú ý và giúp United giành cú ăn ba lịch sử. Trong khi tại M.U, Ole được mệnh danh là một "Siêu dự bị" bởi bàn thắng không thể tin được của ông vào phút cuối.

Trước khi chuyển tới Anh, Solskjær đã hoàn thành nhiệm vụ quốc gia một năm trong quân đội Na Uy,[1] và chơi một cách bán thời gian ở giải đấu đơn vị thứ ba của Na Uy cho CLB Clausenengen, sau đó chuyển tới CLB Molde FKgiải ngoại hạng Na Uy vào năm 1994. Ông gia nhập United ngày 29 tháng 7 năm 1996, với mức phí chuyển nhượng 1.5 triệu bảng. Ông là một người bảo trợ của Manchester United Supporters' Trust (trước đây là Shareholders United).

Ngày 27 tháng 8 năm 2007, Solskjær đã thông báo từ giã sự nghiệp bóng đá sau khi không thể hồi phục từ chấn thương đầu gối nghiêm trọng. Tuy nhiên, Solskjær đã ở lại Old Trafford trong vai trò huấn luyện, cũng như làm một đại sứ cho CLB này. Ngày 20 Tháng 5 Năm 2008, Solskjær đã được công bố là huấn luyện viên của đội dự bị M.U, ông đã chiếm vị trí của Brian McClairJimmy Ryan, những người sau đó đã làm vai trò người chăm sóc của đội. Ông cũng giám sát một học viện đào tạo cho các cầu thủ bóng đá trẻ tại quê nhà Kristiansund.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp sớm[sửa | sửa mã nguồn]

Solskjær sau một trận đấu của CLB Molde

Solskjær xuất hiện lần đầu tiên trong màu áo Clausenengen và gây ấn tượng tại Cúp Otta lúc 17 tuổi, với 17 bàn thắng trong sáu trận. Sau đó ông gia nhập Molde vào năm 1995 và ghi được 20 bàn trong mùa giải đầu tiên ở Giải ngoại hạng Na Uy.

Những năm đầu ở Manchester United[sửa | sửa mã nguồn]

Solskjær đã ghi được 31 bàn trong 42 trận đấu cho Molde tại Giải ngoại hạng Na Uy, và ông đã không gây thất vọng khi bắt đầu sự nghiệp của mình tại Manchester United, ghi được bàn thắng đầu tay của mình trong vòng sáu phút khi vào sân để thay David May trong trận đấu với Blackburn Rovers tại Premiership mùa giải 1996-1997.

Ông đã gia nhập United trong tháng 7 năm 1996 với phí chuyển nhượng 1.5 triệu bảng Anh, là một trong hai tiền đạo nằm trong kế hoạch mua sắm của M.U, người kia là tiền đạo của Blackburn Roversđội tuyển Anh Alan Shearer, người sau đó gia nhập Newcastle United với mức phí kỷ lục thế giới 15 triệu bảng. Anh là tiền đạo duy nhất đến Old Trafford năm đó, trong mùa giải đầu tiên tại M.U anh được nhiều người dự đoán như một phương án thay thế bất đắc dĩ cho Eric CantonaAndy Cole khi chấn thương và chỉ thỉnh thoảng có cơ hội chơi trong đội hình chính thức. Nhưng khi Solskjær đến Manchester, Ole nói ông sẽ là một phần quan trọng của đội một chứ không phải chỉ để ngồi dự bị, và cũng sẽ chứng minh mình là một trong những cầu thủ giá rẻ nhưng xuất sắc nhất của giải.

Solskjær đã được mang chiếc áo số 20 (trước đây là của Dion Dublin và sau đó là Gary Neville); nó là một số áo ông muốn giữ cho phần còn lại của sự nghiệp ở Manchester United của mình.

Solskjær ghi được 18 bàn thắng cho United tại Premier League mùa giải đầu tiên, giúp United giành được danh hiệu trong những tuần cuối cùng của mùa giải. Các phương tiện truyền thông ở nước Anh, gán cho ông biệt danh "Sát thủ có gương mặt trẻ thơ" vì vẻ bề ngoài trẻ trung và bản năng săn bàn hoàn thiện đến chết người của ông. Nhưng có lẽ sẽ là tốt nhất nếu như gọi ông là một "siêu dự bị", bởi ông có một thói quen lạ rất đáng chú ý là thường ra sân từ băng ghế dự bị nhưng mỗi lần ông vào sân là ghi được bàn thắng. Alex Ferguson nhận xét rằng Solskjær thường ngồi trên ghế dài và học tập từ các trận đấu mà không cần dùng tới đôi mắt của mình. Một trong những chiến công ấn tượng nhất của ông là ghi bốn bàn thắng trong 12 phút cuối cùng của trận United 8-1 Nottingham Forest. Ông ghi bốn bàn trong một trận đấu trễ của mùa giải trước Everton giúp Manchester United thắng 5-1.

Solskjær đã quyết định ở lại Old Trafford, mặc dù các câu lạc bộ khác cho thấy sự quan tâm rất lớn đến ông vào năm 1998. Thậm chí Ole còn từ chối một lời đề nghị từ Tottenham Hotspur, sau khi Manchester United đã chấp nhận giá mà Tottenham trả cho ông. Cầu thủ người Na Uy đã ghi một bàn thắng quyết định vào những phút bù giờ cuối trong trận chung kết UEFA Champions League 1999, cùng với Teddy Sheringham (ghi một bàn thắng trước đó) giúp Manchester United giành cú ăn ba danh hiệu.

Một mốc son đáng nhớ nữa trong sự nghiệp của ông là thời điểm cưới trong trận đấu với Newcastle United vào năm 1998. Trận đấu đan có tỉ số 1-1, và Manchester United cần ít nhất một trận hòa để theo kịp với Arsenal trong cuộc chạy đua cho danh hiệu vô địch giải ngoại hạng Anh. Khi gần kết thúc trận đấu, cầu thủ của Newcastles là Robert Lee đã có một cơ hội ghi bàn tuyệt vời, thấy vậy Solskjær chạy băng từ phần sân bên kia về để thực hiện một pha phạm lỗi cứu nguy cho M.U, do đó Newcastle đã không thể dành một trận thắng. Solskjær đã làm điều này khi biết chắc chắn rằng ông sẽ bị phạt thẻ đỏ, và bị đình chỉ trong trận đấu tới. Những người ủng hộ ông coi đây là một ví dụ hoàn hảo về lòng hi sinh vì lợi ích chung của CLB ở Solskjær, trước khi nghĩ đến lợi ích cá nhân.

Những chiến công đáng nhớ khiến ông trở thành một nhân vật yêu thích của các cổ động viên, tạo cảm hứng cho những bài hát như "Ai đã đặt bóng vào lưới của Đức?" và "Bạn là Solskjær của tôi". Ngay cả khi ông đã vắng mặt trên sân một thời gian dài do chấn thương, người hâm mộ United vẫn hát vang những bài hát này trong các trận đấu không có Solskjær.

Sau vài năm chơi ở vai trò của một siêu dự bị, Solskjær có cơ hội ra sân ngay từ đầu trong mùa giải 2001-02, kết hợp với tiền đạo người Hà Lan Ruud van Nistelrooy. Ông lập tức nắm lấy cơ hội với sự sắc bén đặc trưng trong khâu ghi bàn, buộc Andrew ColeDwight Yorke phải ngồi trên ghế dự bị.

Mùa giải 2002-03, sau khi cả hai cầu thủ Andrew Cole và Dwight Yorke đã rời Old Trafford, Solskjær phải cạnh tranh một xuất trong vị trí tiền đạo chính thức với Diego Forlán và van Nistelrooy. Tuy nhiên, Ferguson đã để van Nistelrooy và Paul Scholes làm bộ đôi tiền đạo phía trước, hoặc chỉ sử dụng một tiền đạo duy nhất ở phía trên, có nghĩa rằng cơ hội cho anh ra sân đã bị hạn chế đi rất nhiều.

Solskjær sau đó đã được đưa ra chơi ở tiền vệ cánh phải khi David Beckham dính phải một chấn thương. Ngoài chứng minh mình là một cầu thủ có thể tạt cánh được, Solskjær cũng điểm xuất lên tên tuổi của ông với các bàn thắng, Ole ghi được tổng cộng 16 bàn thắng trong mùa giải đó. Ông đã được Ferguson lựa chọn để chơi bên cánh phải trong những trận đấu quan trọng, chẳng hạn như trong trận đấu với Arsenal và trận tứ kết Champions League trước Real Madrid, trong khi Beckham được để lại trên băng ghế dự bị. Ông cũng được giao băng đội trưởng đội trong một số trận đấu.

Solskjær đã chơi cho Na UyFIFA World Cup 1998Euro 2000, có 67 lần ra sân trên đấu trường quốc tế.

Mùa giải chấn thương[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đầu mùa giải 2003-04, Solskjær là cầu thủ chạy cánh phải số một của United. Tuy nhiên, một chấn thương đầu gối trong trận đấu với Panathinaikos vào ngày 16 tháng 9 năm 2003 đã khiến Solskjær ngồi ngoài xem đồng đội thi đấu ròng rã cho đến tháng 2 năm 2004. Solskjær trở về từ chấn thương trong trận bán kết Cúp FA thắng Arsenal. Ông cũng đã chơi trong trận chung kết Cúp FA năm 2004, trận đấu mà Manchester United cũng chiến thắng và đoạt cúp. Solskjær đã buộc phải trải qua phẫu thuật đầu gối chuyên sâu trong tháng 8 năm 2004 và phải bỏ lỡ hoàn toàn mùa giải 2004-05. Khi Solskjær đã hồi phục thể lực của mình, thì lúc đó ông đã ở độ tuổi khó khăn là 32 và trở thành gánh nặng trong những đợt tấn công của United, đa phần anh ra sân từ băng ghế dự bị. Nhưng các cổ động viên M.U yêu mến Solskjaer vì lòng trung thành nên họ không nề hà chuyện ngồi dự bị của anh.

Để tiếp tục biểu lộ sự ủng hộ của họ, những người hâm mộ đã dán những tấm biểu ngữ trên khán đài Stretford End của sân Old Trafford với dòng chữ: "20 LEGEND" (Huyền thoại số 20, vì Solskjær mặc áo số 20).[2] Solskjær cũng đền đáp lại tấm lòng người hâm mộ bằng cách trở thành một người bảo trợ của hiệp hội những người ủng hộ, Manchester United Supporters Trust (MUST), trước đây là Shareholders United.

Trở lại từ chấn thương[sửa | sửa mã nguồn]

Solskjær đã trở lại vào ngày 05 tháng 12 năm 2005, ông tiếp tục ngồi trên băng ghế dư bị trong trận đấu với Liverpool. Số lượng khán giả lên tới 2.738 đã đến để chứng kiến sự trở lại của cầu thủ người Na Uy nhưng Manchester United đã thua 2-0. Ông đã vào sân thay người trong trận gặp Birmingham vào ngày 28 tháng 12. Sau đó, ông đã chơi ở đội hình xuất phát lần đầu tiên kể từ hơn một năm trước đây trong trận đấu Cúp FA với Burton Albion, trước khi chơi một trận đấu đầy đủ trong vai trò đội trưởng từ khi ông thi đấu trở lại. Sau đó nhận ra thể lực Solskjær chưa đảm bảo nên Alex Ferguson đã để ông lên băng ghế dự bị cho đến ngày 08 tháng 3 năm 2006 trong một trận đấu với Middlesbrough, ông vô tình bị phạm lỗi bởi Ugo Ehiogu, người đã phá vỡ gò má của ông. Trong khi phải đối mặt với khả năng không thể thi đấu ở phần còn lại của mùa giải, ông vẫn xuất hiện để thay người trong trận đấu với Sunderland vào ngày Thứ sáu Tuần Thánh.

Solskjær đã có một tour du đấu rất thành công vào mùa hè năm 2006 và được Ferguson khen ngợi người cũng nói rằng ông sẽ xem xét lại kế hoạch mua tiền đạo mới của mình.[3] Ole Solskjær trở lại thi đấu tại Premiership vào ngày 23 tháng 8 năm 2006 khi ông ghi bàn trong trận gặp Charlton Athletic, bàn thắng đầu tiên của ông tại giải Ngoại hạng Anh kể từ tháng 4 năm 2003. Ferguson nhận xét sau trận đấu rằng "đó là một khoảnh khắc tuyệt vời cho Ole, người hâm mộ United ở khắp mọi nơi, các cầu thủ và nhân viên" và rằng "Ole đã không thi đấu một thời gian dài với thương tích trong hai năm qua, nhưng ông vẫn kiên trì và không bao giờ mất niềm tin và đã được báo đáp vào đêm nay..."

Sau một trận gặp Reading, Solskjær đã phải phẫu thuật thêm về đầu gối của mình. Tuy nhiên, nó không nghiêm trọng như các chấn thương trước đây của ông, và ông được đưa ra thi đấu chỉ một tháng sau.

Tập tin:Olesolskjaer.jpg
Ole Gunnar Solskjaer chào tạm biệt khán giả sân Old Trafford trong trận đấu chia tay.

Ngày 5 tháng 6 năm 2007, có một nguồn thông báo rằng Solskjær đã phải trải qua một pha phẫu thuật nhỏ sau khi ông cảm thấy khó chịu ở đầu gối của mình trong khi đang tập luyện với đội tuyển Na Uy. Cuộc phẫu thuật đã thành công, nhưng Solskjær không hoàn toàn hồi phục và phải thông báo treo giày vào ngày 27 tháng 8 năm 2007.[4] Cuối cùng, vào ngày 04 tháng 9 sau khi trận đấu tại sân nhà Old Trafford trước Sunderland, ông chính thức giã từ sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp, khi Solskjær đi ra đường pitch khán giả đã đồng loạt đứng dậy để thực hiện những tràng vỗ tay hoan hô. Ole Gunnar Solskjær đã giữ kỷ lục là người ghi bàn cho Manchester United nhiều nhất với tư cách là một cầu thủ dự bị, ghi được 28 bàn thắng khi vào sân thay người.[5]

Trận đấu chia tay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 02 tháng 8 năm 2008, Solskjær được ban lãnh đạo Manchester United tổ chức một trận đấu chia tay tại sân Old Trafford với CLB Espanyol của Tây Ban Nha. Hơn 68.000 người hâm mộ đã có mặt xem trân đấu cuối cùng của thần tượng trong tim mình. Solskjær xuất hiện ở phút 68, thay thế Carlos Tévez, tuy nhiên ông đã không thể có bàn thắng chia tay 70 ngàn khán giả tới sân Old Trafford, tiền đạo người Na Uy đã có 2 cơ hội ghi bàn song gánh nặng tuổi tác đã khiến anh không thể thắng được thủ môn đối phương nhưng cuối cùng M.U vẫn thắng 1-0 nhờ công của cầu thủ trẻ Campell.[6] Vào cuối trận đấu, ông nói chuyện với các fan hâm mộ bằng một bài phát biểu, cảm ơn các nhân viên, cầu thủ, người hâm mộ và gia đình ông.

Bước đầu tiên làm huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Solskjær đã ký hợp đồng cuối cùng của ông với Manchester United vào ngày 31 tháng 3 năm 2006, với một điều khoản cho phép ông phát triển các giải thưởng huấn luyện. Ông cũng đã hoạt động trong vai trò đại sứ cho câu lạc bộ, khi ông đi du lịch đến Hồng Kông vào năm 2006 và chơi với các sinh viên tại trường Manchester United Soccer ở đó. Khi được phỏng vấn bởi Setanta Sports trong tháng 8 năm 2007, Solskjær đã xác nhận ông sẽ làm một huấn luyện viên sau khi giã từ sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp, và sẽ bắt đầu tìm kiếm những danh hiệu yêu cao quý sau khi mùa giải cuối cùng của ông với Manchester United kết thúc. Sau khi nghỉ hưu, Solskjær đã làm việc cho Alex Ferguson tại Old Trafford trong vai trò huấn luyện viên vị trí tiền đạo cho đội một trong phần còn lại của mùa giải 2007-08.

Trong suốt mùa hè năm 2008, ông dẫn dắt Đội dự bị Manchester United và đã giành được Cúp Senior Lancashire 2007–08 bằng cách đánh bại Liverpool với tỉ số 3-2 trong trận chung kết.[7]

Ngay sau khi từ chức ở Åge Hareide, Solskjær đã có cơ hội làm huấn luyện viên dẫn dắt đội tuyển quốc gia Na Uy, nhưng Ole lại từ chối, nói rằng lúc này chưa đúng thời điểm để ông trở thành huấn luyện viên cho quốc gia mình.[8]

Cuộc sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Solskjær sống ở Bramhall với vợ, Silje, và ba đứa con của họ, Noah, karna và Elijah. Ông đã thừa nhận thời gian gần đây rằng ông không phải là cầu thủ ưa thích của con trai mình Noah mà cầu thủ cậu bé thích là cựu đồng đội của ông tại Manchester United Wayne Rooney.[9]

Trong tháng 11 năm 2007, Solskjær đã được trao giải hạng nhất Huân chương Hoàng gia Na Uy của St Olav bởi vua Harald V của Na Uy, phong tước hiệp sĩ người Na Uy.[10] Ông đã trình bày các giải thưởng trong một buổi lễ vào ngày 25 tháng 10 năm 2008 tại quê nhà Kristiansund. Solskjær là người trẻ nhất từng nhận giải thưởng của phong tước hiệp sĩ, vì giải thưởng đó thường được ban tặng cho các thành viên lớn tuổi và đáng chú ý trong xã hội ở những năm sau này.[11]

Trong năm 2010, trang báo Rich List Sport (Danh sách Nhân vật Thể thao Giàu có) của tờ Sunday TimesAnh ước tính tài sản cá nhân của Solskjær lên tới khoảng 10 triệu bảng Anh, khiến ông trở thành một trong những huấn luyện viên giàu nhất bóng đá sứ xở sương mù.[12]

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Solskjær xuất hiện lần đầu tiên trong màu áo đội tuyển quốc gia Na Uy ở một trận giao hữu với Jamaica vào ngày 26 tháng 11 năm 1995, một vài tháng trước khi ông gia nhập Manchester United. Trận đấu kết thúc với trận hòa 1-1 và Ole Gunnar ghi bàn duy nhất cho Na Uy. Ông tiếp tục phong độ ghi bàn tuyệt vời của mình bằng việc ghi được 3 bàn thắng trong lần đầu tiên được gọi lên đội tuyển quốc gia trong chiến dịch vòng loại World Cup 1998.

Solskjær đã chơi trong cả hai giải FIFA World Cup 1998Euro 2000 cho đội tuyển quốc gia Na Uy. Ông đã thành lập một mối quan hệ đối tác sợ với đồng đội ở đội tuyển và là cựu tiền đạo Chelsea Tore André Flo, được coi là một trong những quan hệ đối tác nổi bật nhất trong lịch sử của Na Uy.

Sau thời gian dài của ngồi ngoài vì chấn thương, ông đã trở lại trong một trận đấu đầy đủ của mình vào ngày 02 tháng 9 năm 2006, khi Ole Gunnar ghi thắng bàn đầu tiên cho mình và cũng là cuối cùng trong trận thắng 4-1 với Hungary ở vòng loại Euro 2008. Đó cũng là lần cuối cùng ông ghi bàn cho đội tuyển quốc gia và tổng cộng ông có 23 bàn thắng trên đấu trường quốc tế.

Ông đã xuất hiện lần cuối cùng trong màu áo Na Uy với Croatia trong tháng 2 năm 2007, kết thúc kỷ lục 67 trận ra sân của mình.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bàn thắng trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

CLB Mùa giải Giải Cúp Giải quốc nội Châu Âu Khác[13] Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Clausenengen 1990
1991
1992
1993
1994 47 31
Tổng 47 31
Molde 1995 26 20
1996 16 11
Tổng 42 31
Manchester United 1996–97 33 18 3 0 0 0 10 1 0 0 46 19
1997–98 22 6 2 2 0 0 6 1 0 0 30 9
1998–99 19 12 8 1 3 3 6 2 1 0 37 18
1999–2000 28 12 1 0 11 3 6 0 46 15
2000–01 31 10 2 1 2 2 11 0 1 0 47 13
2001–02 30 17 2 1 0 0 15 7 0 0 47 25
2002–03 37 9 2 1 4 1 14 4 0 0 57 15
2003–04 13 0 3 0 0 0 2 1 1 0 19 1
2004–05 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
2005–06 3 0 2 0 0 0 0 0 0 0 5 0
2006–07 19 7 6 2 1 1 6 1 0 0 32 11
2007–08 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Tổng 235 91 30 8 11 7 81 20 9 0 366 126
Tổng cộng sự nghiệp 324 237 30 8 11 7 81 20 9 0 366 272

[14]

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Ole Gunnar Solskjær: Bàn thắng quốc tế
# Ngày Địa điểm Đối thủ Tỉ số Kết qủa Sự kiện
1 26 tháng 11 1995 Kingston  Jamaica 1-1 Hòa Giao hữu
2 27 tháng 3 1996 Windsor Park, Belfast  Bắc Ireland 2-0 Thắng Giao hữu
3 02 tháng 6 1996 Ullevaal Stadion, Oslo  Azerbaijan 5-0 Thắng vòng loại World Cup 1998
4
5 30 tháng 4 1997 Ullevaal Stadion, Oslo  Phần Lan 1-1 Hòa vòng loại World Cup 1998
6 25 tháng 3 1998 King Baudouin Stadium, Brussels  Bỉ 2-2 Hòa Giao hữu
7 27 tháng 5 1998 Molde stadion, Molde  Ả Rập Saudi 6-0 Thắng Giao hữu
8
9 27 tháng 3 1999 Sân vận động Olympic (Athens)  Hy Lạp 2-0 Thắng vòng loại Euro 2000
10
11 28 tháng 4 1999 Tblisi  Gruzia 4-1 Thắng vòng loại Euro 2000
12 08 tháng 9 1999 Ullevaal Stadion, Oslo  Slovenia 4-0 Thắng vòng loại Euro 2000
13 09 tháng 10 1999 Sân vận động Daugava, Riga  Latvia 2-1 Thắng vòng loại Euro 2000
14 27 tháng 5 2000 Ullevaal Stadion, Oslo  Slovakia 2-0 Thắng Friendly
15 24 tháng 3 2001 Ullevaal Stadion, Oslo  Ba Lan 2-3 Thua vòng loại World Cup 2002
16 28 tháng 3 2001 Minsk  Belarus 1-2 Thua vòng loại World Cup 2002
17 15 tháng 8 2001 Ullevaal Stadion, Oslo  Thổ Nhĩ Kỳ 1-1 Hòa Giao hữu
18 14 tháng 5 2002 Ullevaal Stadion, Oslo  Nhật Bản 3-0 Thắng Giao hữu
19 22 tháng 5 2002 Sân vận động Aspmyra, Bodø  Iceland 1-1 Hòa Giao hữu
20 2 tháng 4 2003 Thành phố Luxembourg  Luxembourg 2-0 Thắng vòng loại Euro 2004
21 11 tháng 6 2003 Ullevaal Stadion, Oslo  România 1-1 Hòa vòng loại Euro 2004
22 02 tháng 9 2006 Budapest  Hungary 4-1 Thắng vòng loại Euro 2008
23

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Đội dự bị Manchester United
  • Giải bóng đá các đội dự bị Anh (1): 2009-10
  • Cúp Senior Lancashire (1): 2008-09
  • Cúp Senior Manchester (1): 2009

Tháng 11/2010, cựu tiền đạo người NaUy trở về dẫn dắt Molde - đội bóng anh thi đấu trước khi chuyển đến Man Utd năm 1996. Ngay trong mùa giải đầu tiên Solskjaer đã giúp Molde lần đầu tiên vô địch quốc gia (thậm chí đăng quang sớm hai vòng đấu).

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Meet the Teams - Part One”. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2008. 
  2. ^ Geocities
  3. ^ “Orlando Pirates 0-4 Man Utd”. BBC Sport. 16 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  4. ^ “"Sát thủ có khuôn mặt trẻ thơ" tuyên bố giải nghệ”. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  5. ^ “All substitute appearances in all competitive matches (plus goals as a sub)”. Stretfordend.co.uk. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  6. ^ “Trận đấu tôn vinh Solskjaer: Chia tay một tượng đài”. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2010. 
  7. ^ Steve Bartram (30 tháng 7 năm 2008). “Reds snare Lancashire Cup”. Manchester United FC. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  8. ^ “Solskjaer: I turned down Norway job offer”. ESPNsoccernet (Entertainment and Sports Programming Network). 23 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  9. ^ “Không có thay thế cho Solskjær (Tiếng Anh)”. The World Game. 31 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  10. ^ Nina Berglund (19 tháng 11 năm 2007). “Back to school for Solskjær”. Aftenposten. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  11. ^ “Ole Gunnar Solskjaer knighted”. NRK (The Norway Post). 26 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  12. ^ “Ole Gunnar Solskjaer among top ten wealthiest coaches”. Imscouting. 30 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010. 
  13. ^ Gồm các giải đấu quốc tế khác, bao gồm Siêu cúp nước Anh, Siêu cúp châu âu, Cúp Liên lục địa, FIFA Club World Cup
  14. ^ “Ole Gunnar Solskjaer”. StretfordEnd.co.uk. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Ole Gunnar Solskjær tại Wikimedia Commons