Gấu xám Bắc Mỹ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gấu xám Bắc Mỹ
Grizzly Bear Fishing Brooks Falls (flipped).jpg
Một con gấu xám đang bắt cá hồi di cư
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Ursidae
Chi (genus) Ursus
Loài (species) U. arctos
Phân loài (subspecies) U. a. horribilis
Danh pháp ba phần
Ursus arctos horribilis
(Ord, 1815)
Phân bố thu hẹp trong thời gian sau kỷ băng hà, trước đây và hiện tại.
Phân bố thu hẹp trong thời gian sau kỷ băng hà, trước đây và hiện tại.

Gấu xám Bắc Mỹ (tên khoa học Ursus arctos horribilis), còn được gọi là gấu đầu bạc, gấu xám, hoặc gấu nâu Bắc Mỹ, là một phân loài của gấu nâu (Ursus arctos) thường sống ở vùng núi cao ở miền Tây Bắc Mỹ. Phân loài này được cho là hậu duệ của loài gấu nâu Ussuri có mặt khắp vùng Alaska tới miền đông nước Nga 100.000 năm trước đây, mặc dù chúng đã không di chuyển về phía nam cho đến 13.000 năm trước.[1]

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Gấu xám phân bố rộng khắp Bắc Mĩ, trước đây chúng phân bố nhiều ở dãy núi Rocky, AlaskaYukon. Nhưng đa số thì loài gấu này ngày nay đều sống ở nhiều vườn quốc gia tại hai nước MỹCanada, tiêu biểu là vườn quốc gia Yellowstone.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Gấu xám đực cho trọng lượng từ 300–500 kg. Gấu xám cái có trọng lượng nhỏ hơn, từ 130–400 kg. Gấu xám có một kích thước đồ sộ. Khi trưởng thành gấu có chiều dài từ 1,9–3 m. Khi mới sinh ra, gấu con chỉ nặng 500 gram. Không giống các loài gấu khác trong họ nhà gấu, gấu xám rất ít khi leo cây. Gấu xám ngủ đông suốt cà mùa đông, vì thế vào mùa thu chúng cần ăn nhiều để tiêu thụ suốt nhiều tháng ngủ. Ngoại trừ khoảng thời gian ở cùng với con cái và đàn con,[2] gấu xám thường sống đơn độc, và là loài động vật thích hoạt động ở vùng ven biển, cạnh suối, hồ, sông, ao, trong những khu vực có cá hồi đẻ trứng. Mỗi năm, con cái sinh sản một lần duy nhất, mỗi lần từ một đến bốn gấu con (thông thường là hai) nặng khoảng 500 gram (1 lb). Con cái sẽ bảo vệ đàn con của mình, thậm chí là tấn công nếu nó nghĩ rằng nó và những đứa con của mình đang gặp nguy hiểm.

Gấu xám dù xếp vào loại ăn thịt, nhưng nó lại ăn tạp. Thức ăn của gấu này khá đa dạng, thực vật bao gồm cỏ, hoa màu, chồi non, quả mọng, con mồi ưa thích của gấu xám bao gồm cá hồi, chồn, chim, thỏ rừngsóc. Dù thường ăn thú nhỏ, gấu xám có thể tấn công những động vật cỡ trung bình tới lớn như cừu núi Bắc Mỹ, nai sừng tấm, tuần lộc, dê núi, bò xạ hương, bò rừng bizon. Gấu xám cũng là đối tượng bị săn bắt của các loài thú ăn thịt khác như sói xám hay báo sư tử, nhưng những kẻ ăn thịt đó phải khôn ngoan, kinh nghiệm và có cả đàn đi theo mới có thể khuất phục được chúng.

Dù gấu xám có nhiều con mồi để săn nhưng chúng thường bắt cá hồi để ăn. Những mùa mà cá hồi từ biển trở lại suối đẻ trứng, đàn gấu tụ tập rất đông ở các con suối. Gấu xám có thể chỉ cần vung tay xuống nước là bắt được cá. Gấu xám Bắc Mỹ hoạt động như những kỹ sư sinh thái, bắt cá hồi và mang chúng tới các vùng cây lân cận. Tại đó chúng thải nước tiểu và phân giàu dinh dưỡng và xác bị ăn dở. Đã có ước tính rằng những con gấu để lại tới nửa số cá hồi chúng bắt được trên nền rừng[3][4] với mật độ có thể lên đến 4,000 kilograms trên 1 hectare,[5] cung cấp tới 24% tổng lượng nitơ có được cho các khu rừng ven sông.[6] Những cây vân sam lên tới 500 m (1.600 ft) từ một dòng suối nơi gấu xám Bắc Mỹ bắt cá hồi đã được phát hiện có chứa nitơ có nguồn gốc từ cá hồi bị bắt.[6]

Tấn công con người[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Gấu tấn công

Gấu xám cũng là một con vật rất dễ bị kích động và tấn công người. Đã không ít người phải bỏ mạng vì bị gấu xám tấn công. Cú tát của nó có thể lấy mạng một con người. Gấu xám còn nổi tiếng với lực cắn mạnh (1200 pound), hơn cả linh cẩu đốm ở châu Phi. Dù có thân hình to lớn, gấu xám có thể chạy tới 56 km/h. Vì thế người ta đã phát minh ra bình xịt gấu có hơi cay rất nồng có thể xua đuổi những con gấu hung dữ nhất, tuy nhiên đó không phải là giải pháp tốt nhất. Khi gặp phải gấu xám, tốt hơn là đừng chạy mà quay mặt đi chậm rãi hoặc giả chết và chỉ dùng tới bình xịt khi thật sự cần thiết.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ McLellan, Bruce & Reiner, David C. (1994). “A review of bear evolution”. Int. Conf. Bear Res. and Manage 9 (1): 85–96. 
  2. ^ Grizzly Bears, Grizzly Bear Pictures, Grizzly Bear Facts – National Geographic. Animals.nationalgeographic.com. Retrieved on 2012-08-17.
  3. ^ Reimchen 2001
  4. ^ Quinn 2009
  5. ^ Reimchen et al, 2002
  6. ^ a ă Helfield, J. & Naiman, R. (2006), “Keystone Interactions: Salmon and Bear in Riparian Forests of Alaska”, Ecosystems 9 (2): 167–180, doi:10.1007/s10021-004-0063-5 .

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]