Hans Georg Dehmelt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hans Georg Dehmelt
Sinh 9 tháng 9, 1922 (92 tuổi)
Görlitz, Đức
Nơi cư trú Hoa Kỳ
Quốc tịch Đức
Ngành Vật lý học
Alma mater Đại học Göttingen
Đại học Duke
Nổi tiếng vì Phát triển ion trap (bẫy ion)
Đo lường chính xác g-factor electron
Giải thưởng Giải Nobel Vật lý (1989)

Hans Georg Dehmelt sinh ngày 9.9.1922 tại Görlitz, Đức, là nhà vật lý người Mỹ gốc Đức, đã cùng phát triển kỹ thuật ion trap (bẫy ion) với Wolfgang Paul, và cùng được trao chung một nửa Giải Nobel Vật lý năm 1989[1] (nửa giải còn lại trao cho Norman Foster Ramsey, Jr.).

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh tại Görlitz, Đức. Khi lên 10 tuổi Dehmelt được một học bổng để vào học trường trung học Berlinisches Gymnasium zum Grauen Kloster, một trường dạy tiếng LatinhBerlin. Sau khi tốt nghiệp năm 1940, ông tình nguyện nhập ngũ phục vụ trong binh chủng pháo binh phòng không của Quân đội Đức. Đơn vị ông được gửi sang Stalingrad, may là thoát khỏi cuộc bao vây của Hồng quân Liên Xô. Ít lâu sau ông trở về Đức và được đơn vị cho đi học Vật lý họcĐại học Breslau (nay là Đại học Wrocław) năm 1943. Sau một năm học, ông trở lại đơn vị và bị quân Đồng minh bắt trong Trận Bulge.

Sau khi bị giam 1 năm trong một trại tù binh ở Pháp. Ông được Quân đội Hoa Kỳ phóng thích năm 1946. Dehmelt trở lại học Vật lý họcĐại học Göttingen, và tự túc bằng cách sửa chữa cùng đổi chác các máy thu thanh cũ thời tiền chiến. Ông đậu bằng thạc sĩ năm 1948 và bằng tiến sĩ năm 1950, đều ở Đại học Göttingen. Sau đó ông được Đại học Duke mời làm nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, và ông di cư sang Hoa Kỳ năm 1952.

Dehmelt trở thành giáo sư phụ tá ở Đại học Washington tại Seattle năm 1955, làm phó giáo sư năm 1958, và giáo sư năm 1961. Ông tiếp tục làm việc ở đại học này cho tới khi nghỉ hưu trong tháng 10 năm 2002.

Công trình nghiên cứu về kỹ thuật ion trap (bẫy ion) được thực hiện ở Đại học Washington. Kỹ thuật này được sử dụng trong đo lường chính xác cao g-factor[2] của điện tử.

Năm 1979 ông dẫn đầu một đội nghiên cứu đã chụp được hình một nguyên tử đơn đầu tiên.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Dehmelt kết hôn với Irmgard Lassow (nay đã chết). Họ có một con trai. Sau đó ông lại kết hôn với Diana Dundore, một nữ bác sĩ.

Giải thưởng và Vinh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Một số xuất bản phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Nuclear Quadrupole Resonance", H. Dehmelt, Am. J. Phys. 22, 110 (1954)
  • ”Atomic Phosphorus Paramagnetic Resonance Experiment", H. Dehmelt, Phys. Rev. 99,527 (1955)
  • "Paramagnetic Resonance Reorientation of Atoms and Ions Aligned by Electron Impact" H. Dehmelt, Phys. Rev. 103, 1125 (1956)
  • "Slow Spin Relaxation of Optically Polarized Sodium Atoms", H. Dehmelt, Phys. Rev. 105, 1487 (1957)
  • "Modulation of a Light Beam by Precessing Absorbing Atoms" H. Dehmelt, Phys. Rev. 105, 1924 (1957)
  • "Spin Resonance of Free Electrons Polarized by Exchange Collisions", H. Dehmelt, Phys. Rev. 109, 381 (1958)
  • "Spin Resonance of Free Electrons", H. Dehmelt, 1958-61 Progress Report for NSF Grant NSF-G 5955
  • "Alignment of the H2+ Molecular Ion by Selective Photodissociation", H. Dehmelt and K. Jefferts, Phys. Rev. 125, 1318 (1962)
  • "Orientation of He Ions by Exchange Collisions with Cesium Atoms", H. Dehmelt and F. Major, Phys. Rev. Lett. 8, 213 (1962)
  • "Ultrahigh Resolution F=0, ±1 3He+ HFS Spectra by an Ion Storage - Exchange Collision Technique", N. Fortson, F. Major and H. Dehmelt, Phys. Rev. Lett. 16, 221 (1966)
  • "Radiofrequency Spectroscopy of Stored Ions", H. Dehmelt, Adv. At. Mol. Phys. 3, 53 (1967) and 5, 109 (1969)
  • "Alignment of the H2+ Molecular Ion by Selective Photodissociation II: Experiments on the RF Spectrum," Ch. Richardson, K. Jefferts and H. Dehmelt, Phys. Rev. 165, 80 (1968)
  • "'Bolometric' Technique for the RF Spectroscopy of Stored Ions", H. Dehmelt and F. Walls, Phys. Rev. Lett. 21, 127 (1968)
  • "Radiative Cooling of an Electrodynamically Confined Proton Gas", D. Church and H. Dehmelt, J. Appl. Phys. 40, 3421 (1969)
  • "Proposed g-2/vz Experiment on Stored Single Electron or Positron", H. Dehmelt and P. Ekstrom, Bull. Am. Phys. Soc. 18, 727 (1973)

Tham khảo và Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Nobel Prize in Physics 1989. Press release”. The Royal Swedish Academy of Sciences. 12 tháng 10 năm 1989. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2008. 
  2. ^ hệ số g, cũng gọi là mômen từ không kích thước
  3. ^ National Science Foundation - The President's National Medal of Science
  • "Moby Electron" article by David H. Freeman Discover magazine feb. 1991 p51-56

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]