Hyūga (thiết giáp hạm Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Backus, This was Hyuga.jpg
Tranh màu nước This was Hyuga được Standish Backus vẽ năm 1946 mô tả thiết giáp hạm Hyuga dưới đáy vịnh Niro
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Đặt tên theo: tỉnh Hyūga
Đặt hàng: 1912
Hãng đóng tàu: Mitsubishi
Đặt lườn: 16 tháng 5 năm 1915
Hạ thủy: 27 tháng 1 năm 1917
Hoạt động: 30 tháng 4 năm 1918
Xóa đăng bạ: 20 tháng 11 năm 1945
Số phận: Mắc cạn tại vùng nước nông ngày 27 tháng 7 năm 1945
Được vớt lên và tháo dỡ 2 tháng 7 năm 1946-4 tháng 7 năm 1947
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp thiết giáp hạm Ise
Trọng tải choán nước: ban đầu: 29.980 tấn (tiêu chuẩn);
36.500 tấn (đầy tải)
sau cải biến: 35.350 tấn (tiêu chuẩn);
38.676 tấn (đầy tải)
Độ dài: ban đầu: 208,18 m (683 ft)
sau cải biến: 219,62 m (720 ft 6 in)
Sườn ngang: ban đầu: 28,65 m (94 ft)
sau cải biến: 33,83 m (111 ft)
Mớn nước: ban đầu: 8,74 m (28 ft 8 in)
sau cải biến: 9,03 m (29 ft 7 in)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số
8 × nồi hơi đốt dầu Kampon
4 × trục
công suất: 45.000 mã lực (33,2 MW) (ban đầu)
80.000 mã lực (60 MW) (sau cải biến)
Tốc độ: ban đầu: 42,6 km/h (23 knot)
sau cải biến: 45 km/h (24,5 knot)
Tầm xa: 17.900 km ở tốc độ 26 km/h
(9.680 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn: 1.360-1.463
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
1 × radar Kiểu 21
2 × radar Kiểu 22
Vũ trang: ban đầu: 12 × pháo 356 mm Kiểu 41 (6×2)
20 × pháo 140 mm Kiểu 41
8 × pháo 80 mm đa dụng
6 × ống phóng ngư lôi 53 cm
sau cải biến: 8 × pháo 356 mm (14 inch) Kiểu 41 (4×2)
16 × pháo 127mm (5 inch) đa dụng
31 × súng phòng không ba nòng 25 mm Kiểu 96
11 × súng phòng không nòng đơn 25 mm Kiểu 96
6 × 8 ống phóng rocket phòng không 120 mm
Bọc giáp: đai giáp mực nước 305 mm
sàn tàu 55+30 mm
tháp chỉ huy 356 mm
tháp súng 305 mm
Máy bay mang theo: 3 × máy bay (ban đầu)
22 × máy bay (sau cải biến)
Thiết bị bay: 1 × máy phóng

Hyūga (tiếng Nhật: 日向), được đặt tên theo tỉnh Hyūga trên đảo Kyūshū, là một thiết giáp hạm của Hải quân Đế quốc Nhật Bản thuộc lớp Ise.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Hyūga được đặt lườn bởi Mitsubishi vào ngày 6 tháng 5 năm 1915, được hạ thủy vào ngày 27 tháng 1 năm 1917 và hoàn tất vào ngày 30 tháng 4 năm 1918. Thoạt đầu nó được thiết kế như chiếc thứ tư trong lớp Fusō, nhưng được thiết kế lại đáng kể nhằm khắc phục các thiếu sót.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Hyūga được nâng cấp đáng kể và cấu trúc lại từ năm 1926 đến năm 1928 và từ năm 1934 đến năm 1936. Sau hậu quả thảm hại của trận Midway, Hải quân Nhật xem xét kế hoạch chuyển đổi tất cả các thiết giáp hạm, ngoại trừ hai chiếc lớn nhất là YamatoMusashi, thành những tàu sân bay. Cuối cùng, do không đủ thời gian và nguồn lực, Hải quân quyết định chỉ cải tạo những chiếc thiết giáp hạm cũ nhất và ít hữu dụng nhất thành tàu sân bay lai. Hyūga được chế tạo lại tại Xưởng hải quân Sasebo từ ngày 1 tháng 5 đến ngày 1 tháng 10 năm 1943. Hyūga và chiếc tàu chị em Ise được tháo dỡ hai tháp pháo 356 mm (14 inch) phía sau (nặng 864 tấn mỗi cái) và các tháp súng (nặng 800 tấn mỗi cái). Chúng được thay thế bằng một sàn đáp nhỏ và sàn chứa để có thể phóng một phi đội máy bay. Để bù trừ cho trọng lượng bị mất và cũng để duy trì chiều cao của trọng tâm con tàu, sàn đáp được phủ một lớp bê tông dày 200 mm (8 inch). Nó cũng được trang bị một thang nâng máy bay.

Vũ khí phòng không cũng được bổ sung để tăng cường khả năng chống đỡ các cuộc không kích. Lực lượng máy bay phối thuộc bao gồm 14 chiếc máy bay ném bom bổ nhào Yokosuka D4Y và 8 chiếc thủy phi cơ Aichi E16A đều được phóng lên bằng máy phóng, nhưng chỉ có thể hạ cánh trên các tàu sân bay thông thường hoặc các căn cứ trên đất liền. Chúng sẽ được đưa trở lên tàu bằng cần trục. Vì việc sản xuất máy bay đã sụt giảm đáng kể vào lúc đó, Hyūga chưa bao giờ chở đủ số lượng máy bay như được trù định.

Hyuga trong những năm 1920.
Hyuga sau khi được cải tạo.
Hyuga bị đánh đắm trong vùng nước nông.

Hyūga tham gia trận đánh mũi Engaño vào tháng 10 năm 1944 dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Đô đốc Kusagawa Kiyoshi. Sau khi sống sót và quay về chính quốc, nó bị máy bay Mỹ từ các tàu sân bay Essex, Ticonderoga, Randolph, Hancock, Bennington, MontereyBataan tấn công tại Nasake-jima, phía Nam Kure, từ ngày 24 đến ngày 28 tháng 7 năm 1945 và thủy thủ đoàn của nó đã cho con tàu mắc cạn tại vùng nước nông.[1]

Nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 20 tháng 11 năm 1945. Từ ngày 2 tháng 7 năm 1946 đến ngày 4 tháng 7 năm 1947, nó được trục vớt và tháo dỡ bởi ụ tàu Kure của xưởng Harima Zosen.

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Brehm, H. Paul. "The Hyuga Strike Mission: An Eyewitness Account," War Times Journal.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]