Olympic Ngôn ngữ học Quốc tế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Olympic Ngôn ngữ học Quốc tế (tiếng Anh: International Linguistics Olympiad, viết tắt: IOL) là một trong những kỳ thi mới nhất trong nhóm 12 Olympic Khoa học Quốc tế. Sự thiết lập khác với những Olympic khoa học khác ở chỗ, chương trình vừa có cả thi cá nhân và thi đồng đội. Đây là kỳ thi về ngôn ngữ học lý thuyết, ngôn ngữ học toán, và ngôn ngữ học ứng dụng được tổ chức hàng năm dành cho học sinh. Kỳ thi bắt đầu từ năm 2003 theo sáng kiến của những nhà ngôn ngữ học người Nga có nhiều năm kinh nghiệm tổ chức các olympic truyền thống về toán học và ngôn ngữ học. (xem. Olympic truyền thống mở rộng Mat-xcơ-va về toán học và ngôn ngữ học).

Nội dung thi[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như những Olympic khoa học khác, các vấn đề (bài tập, bài toán, nhiệm vụ) được dịch và giải quyết hoàn tất trong nhiều ngôn ngữ, và như vậy phải được viết một cách tự do, không bị rào cản của bất kì ngôn ngữ bản địa nào. Trong thực hành, điều này thường rất khó khăn, và những thí sinh sẽ đạt được lợi ích nào đó nếu như họ đã quen thuộc với một hoặc nhiều nhóm ngôn ngữ là các chủ đề của một vài trong số các nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, khả năng hữu ích nhất là phân tích và suy nghĩ diễn dịch, vì tất cả các giải pháp cho các vấn đề phải có sự lý luận và biện minh rõ ràng (như khi giải quyết vấn đề toán (bài toán)).

Thi cá nhân gồm có 5 vấn đề cần phải giải quyết trong 6 giờ đồng hồ. Các vấn đề bao phủ các lĩnh vực chính của ngôn ngữ học lý thuyết, ngôn ngữ học toán, và ngôn ngữ học ứng dụng – ngữ âm học, hình thái học, ngữ nghĩa học, vân vân.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ ILO lần thứ 2, thi đồng đội gồm có một vấn đề cực kỳ khó và có tính chi phí thời gian. Các đội, thường gồm 4 học sinh, có 3-4 giờ để giải quyết vấn đề này.

ILO 5 (2007) được tổ chức ở Xanh Pê-tec-bua, Nga. Năm vấn đề tại kỳ thi cá nhân là trong các tiếng Braille, Movima, Georgian, Ndom, và sự tương ứng giữa tiếng Thổ Nhĩ Kìtiếng Tatar. Vấn đề cho kỳ thi đồng đội là trong tiếng Hawaiian và tập trung vào các thuật ngữ gia hệ. Kết quả ở trang mạng chính thức.

ILO 6 (2008) được tổ chức ở Slantchev Bryag, Bulgaria. Năm vấn đề cá nhân là trong tiếng Micmac, thi ca tiếng Norse cổ (đặc biệt, drottkvætt), các tương ứng giữa tiếng DrehuCemuhî, Copainalá Zoque, và Inuktitut. Vấn đề cho kỳ thi đồng đội là về sự tương ứng giữa tiếng Trung Quốc MandarinCantonese dùng hệ thống fanqie.

ILO 7 (2009) được tổ chức ở Wrocław, Ba Lan, từ 26 tháng 7 đến 30 tháng 7. Chủ đề trong 5 vấn đề cá nhân bao trùm: số từ trong các ngôn ngữ Sulka, ManinkaBamana, trong ngôn ngữ N'Ko và Latin kịch bản, tên Myanma (Burma) truyền thống và mối quan hệ của chúng với ngày sinh, vị trí trọng âm trong Old Indic (Indic cổ) và sự liên hệ giữa ngữ pháp và hình thái trong tiếng Nahuatl cổ điển. Vấn đề thi đồng đội là về tiếng Việt.

Danh sách những người đạt huy chương IOL[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Địa điểm Huy chương Vàng Huy chương Bạc Huy chương Đồng
2003 Borovets, Bulgaria Bulgaria Alexandra Petrova Nga

Boris Turovsky Nga
Eddin Najetović Hà Lan

Mirjam Plooij Hà Lan

Maria Skhapa Nga

Polina Oskolskaya Nga

Ivan Dobrev Bulgaria

2004 Mát-xcơ-va, Nga Nga Ivan Dobrev Bulgaria

Alexander Piperski Nga
Ralitsa Markova Bulgaria

Maria Mamykina Nga

Todor Chervenkov Bulgaria
Tsvetomila Mihaylova Bulgaria
Tymon Słoczyński Ba Lan

Alexandra Zabelina Nga

Xenia Kuzmina Nga
Alexei Nazarov Hà Lan
Margus Niitsoo Estonia
Natalja Hartsenko Estonia
Nikita Medyankin Nga
Sophia Oskolskaya Nga

2005 Leiden, Hà Lan Hà Lan Ivan Dobrev Bulgaria
Eleonora Glazova Nga
Nikita Medyankin Nga

Alexander Piperski Nga
Tsvetomila Mihaylova Bulgaria
Ivaylo Grozdev Bulgaria

2006 Tartu, Estonia Estonia Maria Kholodilova Nga

Ivaylo Dimitrov Bulgaria
Pavel Sofroniev Bulgaria

Yordan Mehandzhiyski Bulgaria

Eleonora Glazova Nga
Mihail Minkov Bulgaria
Daniil Zorin Nga
Sergey Malyshev Nga
Alexander Daskalov Bulgaria

Yuliya Taran Nga

Nikita Medyankin Nga
Diana Aitai Estonia
Paweł Świątkowski Ba Lan

2007 Xanh Pê-tec-bua, Nga Nga Adam Hesterberg Hoa Kỳ

Łukasz Cegieła Ba Lan

Kira Kiranova Nga

Mihail Minkov Bulgaria
Arseniy Vetushko-Kalevich Nga
Sander Pajusalu Estonia
Teele Vaalma Estonia
Angel Naydenov Bulgaria

Anna Shlomina Nga

Yordan Mehandzhiyski Bulgaria
Elizaveta Rebrova Nga
Maria Kholodilova Nga

2008 Slanchev Bryag, Bulgaria Bulgaria Alexander Daskalov Bulgaria

Hanzhi Zhu Hoa Kỳ
Milan Abel Lopuhaa Hà Lan

Anand Natarajan Hoa Kỳ

Maciej Janicki Ba Lan
Morris Alper Hoa Kỳ
Dmitry Perevozchikov Nga
Łukasz Cegieła Ba Lan
Andrey Nikulin Nga
Marcin Filar Ba Lan

Guy Tabachnick Hoa Kỳ

Joon Kyu Kang Hàn Quốc
Radosław Burny Ba Lan
Diana Sofronieva Bulgaria
Jeffrey Lim Hoa Kỳ
Karol Konaszyński Ba Lan
Yordan Mehandzhiyski Bulgaria
Rebecca Jacobs Hoa Kỳ
Tatyana Polevaya Nga
Georgi Rangelov Bulgaria

2009 Wrocław, Ba Lan Ba Lan Diana Sofronieva Bulgaria

Łukasz Cegieła Ba Lan

Vitaly Pavlenko Nga

Andrey Nikulin Nga
Yordan Mehandzhiyski Bulgaria
Arturs Semenyuks Latvia
Irene Tamm Estonia
Łukasz Kalinowski Ba Lan
Witold Małecki Ba Lan
Aakanksha Sarda Ấn Độ
Rebecca Jacobs Hoa Kỳ

Deyana Kamburova Bulgaria

Szymon Musioł Ba Lan
Elena Volkova Nga
Laura Adamson Estonia
Alan Huang Hoa Kỳ
Ben Caller Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Tomasz Dobrzycki Ba Lan
John Berman Hoa Kỳ
Jun Yeop Lee Hàn Quốc
Sergei Bernstein Hoa Kỳ
Hye Jin Ryu Hàn Quốc

2010 Stockholm, Thụy Điển Thụy Điển

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]