Thuật (Naruto)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trong animemanga Naruto của Masashi Kishimoto, một jutsu–術("chiêu thuật" hay là "chiêu thức") là một cụm từ chỉ đến bất kỳ một chiêu thuật nào ninja sử dụng được nhưng một con người bình thường thì không thể. Thuật thường dựa trên sự điều khiển và phân phối chakra bằng nhiều phương pháp, phổ biến nhất là thủ ấn, còn có tên ingei hay mundra. Ingei/mundra là một phần trong tín ngưỡng của tôn giáo Lão và Phật, và cả những bài tập cổ xưa. Thủ ấn gồm sự kết hợp giữa biểu tượng của mười hai con vật đến từ các chi của Trung Quốc.

Trong phim, khoảng hàng trăm các loại thuật khác nhau đã được tiết lộ, và có cái tên khác nhau tùy theo các phương tiện truyền thông. Anime và manga Naruto tiếng Anh đều sử dụng những cái tên thuật khác nhau, chúng thường xuyên không hợp với nghĩa sát của từ tiếng Nhật. Phim lồng tiếng Anh thường không dịch chữ "jutsu", trong khi đó manga tiếng Anh thì dịch "[tên thuật] Technique" hay "Art of [tên thuật]".

Tạo dựng và khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Khái niệm của thuật được tạo dựng bởi Masashi Kishimoto nhằm giải thích những khả năng siêu nhân mà ninja thực hiện trong phim.[1] Kiểu mẫu ninja của Kishimoto trong Naruto nhằm mục đích loại bỏ những khái niệm mơ hồ được định ra trước về các ninja nổi tiếng của manga khác và mang một hình ảnh nguyên bản vào ninja hiện tại trong manga.[1] Việc sử dụng thủ ấn đã thay thế cho các câu thần chú ma thuật, và dựa trên chuyển động của các ninja trong nhiều trò chơi nhập vai.[1] Thủ ấn được dựa trên các nhân vật của Hoàng đạo Trung Quốc, vốn là một truyền thống lâu đời tại Nhật Bản, và Kishimoto sử dụng chúng một cách chi tiết để tô điểm cho truyền thống đó.[2]

Mặc dù khái niệm về chakra được tìm thấy trong thần thoại Ấn Độ, Phật giáo và nhiều hệ tín ngưỡng khác, trong một cuộc phỏng vấn, Kishimoto khẳng định rằng việc sử dụng chakra của anh trong Naruto không hề dựa vào một trong những điều trên.[1] Anh còn khẳng định thêm đó là từ để tạo ra định nghĩa cụ thể cho khả năng sử dụng thuật của ninja trong Naruto, và được so sánh với the Force trong Chiến tranh giữa các vì sao hay điểm phép thuật trong trò chơi nhập vai.[1]

Chakra[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ đơn giản về "bộ máy cơ học" sản sinh Chakra.

Thể Lực–身体エネルギー|Shintai Enerugī là một dạng năng lượng sống còn được tạo ra bên trong tế bào của cơ thể sống. Kết hợp với Sinh Lực–精神エネルギー|Seishin Enerugī, hay là năng lượng tinh thần và sức mạnh ý chí, nó có thể được dùng cho nhiều mục đích, ví dụ như sản sinh ra sức chịu đựng siêu nhân được dùng trong thể thuật. Nó cũng có thể dùng để tạo ra dạng năng lượng gọi là chakra–チャクラ|chakura, thiết yếu cho việc sử dụng ngay cả thuật đơn giản nhất.[3]

Một khi đã được tạo ra, chakra di chuyển trong phạm vi cơ thể đến bất kỳ một điểm giải phóng (Chakra) nào, tận dụng một hệ thống đường di chuyển chứ không như hệ tuần hoàn. Bằng nhiều phương pháp—thủ ấn là phổ biến nhất—nó sau đó có thể thực hiện những việc tưởng chừng không thể dưới quy luật tự nhiên, như đi trên mặt nước hay phun ra lửa.

Sơ đồ quan hệ bù trừ lẫn nhau của các yếu tố. Chiều mũi tên chỉ tính mạnh hơn

Chất lượng của chakra có thể biến đổi tùy theo thứ được gọi là vận động tự nhiên–性質変化|seishitsu henka.[4] Có sáu loại vận động tự nhiên.[5] Năm loại cơ bản([4] được biết nhiều với tên "yếu tố"), và vận động tự nhiên Âm Dương.[6] Vẫn chưa rõ về loại sau.

Năm loại vận động tự nhiên cơ bản là Địa, Thủy, Hỏa, Phong, và Lôi.[4] Mỗi một yếu tố lại mạnh hơn yếu tố kế bên, nhưng yếu hơn yếu tố ở trước, theo chiều từ Lôi trở về Địa. Ví dụ, một đòn tấn công bằng sét rất hiệu nghiệm khi chống lại đòn phòng thủ bằng đất, nhưng dễ dàng bị chống trả bằng gió. Hơn nữa, tố thuật có thể bị chống trả bằng một thuật cùng loại yếu tố, nếu thuật đó có sức mạnh bằng hoặc kém hơn.[7]

Về cơ bản, mọi người đều có một sự thân thuộc về tự nhiên với một trong những yếu tố này. Những người có sự thân thuộc với Địa sẽ dễ dàng học thuật Thổ Độn–土遁|Doton hơn bất kỳ thuật nào khác. Và tương tự với Thủy (Thủy Độn–水遁|Suiton), Hỏa (Hỏa Độn–火遁|Katon), Phong (Phong Độn–風遁|Fūton), và Lôi (Lôi Độn–雷遁|Raiton).[4] Dù sao, có sự thân thuộc với một trong các yếu tố không có nghĩa là không thể học những tố thuật khác. Hầu hết ninja thượng đẳng đều có thể sử dụng 2 tố thuật, trong khi Hatake Kakashi thậm chí đã sử dụng nhiều hơn vậy.[8]

Ninja với một Huyết kế Giới hạn nhất định có khả năng kết hợp 2 yếu tố với nhau để tạo ra yếu tố mới. Ví dụ như thuật Băng Độn (Hyōton) của Haku, kết hợp Thủy và Phong thành Băng, và thuật Mộc Độn (Mokuton) của Hokage Đệ NhấtYamato, kết hợp Địa và Thủy thành Mộc.[9] Trong khi một vài ninja không có Huyết kế Giới hạn lại có thể dùng nhiều thuật, họ không thể làm cùng một lúc.

Bát Môn[sửa | sửa mã nguồn]

Một biểu đồ cho thấy vị trí của mỗi cổng

Bát Môn–八門|Hachimon là 8 điểm nhất định trên hệ tuần hoàn chakra của một người. Chúng giới hạn dòng chảy chakra trong cơ thể con người. Chakra xuất phát từ giới hạn cơ thể. Điều này khiến cho cơ thể yếu hơn, nhưng giúp cho cơ thể không bị suy nhược quá sớm. Khi mở những cổng này, người đó có thể vượt qua giới hạn cơ thể của chính họ với điều kiện là cơ thể họ tổn thương nặng nề. Mở cánh cổng cuối cùng sẽ khiến người đó có sức mạnh còn vượt qua cả một Kage nhưng kết cục của việc mở cánh cổng cuối cùng là năng lượng từ tế bào của người đó trở nên cạn kiệt, dẫn đến cái chết. Tình trạng mà tất cả 8 cổng được mở gọi là Bát Môn Độn Giáp Chi Trận–八門遁甲の陣|Hachimon Tonkō no Jin.[10] Rock Lee có thể mở năm cổng đầu tiên. Might Guy, người đã dạy Lee chiêu thức này, có thể mở ít nhất sáu cổng. Hatake Kakashi có thể mở ít nhất một cổng, vì có cảnh anh ta đang leo núi đá và kích hoạt một điểm tương tự trong não anh.

Thông tin cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

Nói cơ bản, thuật được chia làm ba nhóm: ảo thuật, nhẫn thuật, và thể thuật. Nhẫn thuật còn có 2 nhóm nhỏ: thuật phong ấnthuật chú ấn, là những thuật để tạo ra ấn với nhiều mục đích khác nhau. Còn có cả tiên thuật sử dụng cả 3 loại năng lượng, năng lượng tinh thần và cơ thể của ninja cùng năng lượng tự nhiên, và kết quả là thuật của ninja còn mạnh hơn khi tạo ra nó bằng cách thông thường như Nhẫn thuật. Còn có khả năng huyết kế giới hạn. Đây thực sự thì không phải là thuật, mà là khả năng di truyền chỉ có thể sở hữu bởi một bộ tộc nhất định.

Dựa trên độ khó hay kĩ năng cần thiết để thực hiện thuật, chúng sẽ được xếp hạng khác nhau. Có tổng cộng 6 hạng (từ E đến S), ngoài 2 hạng cho trường hợp ngoại lệ. Thứ hạng thuật không có nghĩa là nó sẽ hiệu quả hơn một thuật hạng thấp hơn, mà chỉ có nghĩa là khó thực hiện hơn. Sự hiệu quả chủ yếu dựa vào kỹ thuật cá nhân. Hai thứ hạng ngoại lệ là "bí thuật"–秘伝|hiden và "cấm thuật"–禁術|kinjutsu. Bí thuật được truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một bộ tộc. Những thuật này không được xếp hạng vì không ai ngoài bộ tộc biết dùng chúng.[11] Thuật dựa trên Huyết kế Giới hạn cũng rơi vào hạng này. Mặt khác, cấm thuật có rơi vào một trong 6 hạng chính, nhưng lại là ngoại lệ vì chúng bị cấm không được học hay thực hiện. Một thuật có thể xếp vào hạng cấm nếu nó gây hại đến người dùng, như mở Bát Môn, hay chúng hắc ám và độc ác, như của Orochimaru.

Chú ấn thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Chú ấn thuật–呪印術|juin jutsu là thuật sử dụng một loại "chú ấn" đặc biệt để khiến ai đó chịu sự điều khiển của người dùng hay khơi dậy tác dụng dị thường trong người bị ảnh hưởng. Chúng có thể dùng để gây đau đớn (gồm cả cái chết nếu sự đau đớn kéo dài lâu) hay kích hoạt nhiều sự biến hình khác nhau cho người bị ảnh hưởng,như của Orochimaru vậy.[11]

Ảo thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Ảo thuật–幻術|genjutsu là những thuật sử dụng chakra trong hệ thần kinh của đối thủ để tạo ra ảo giác; về cơ bản được coi là nhẫn thuật cao cấp về trí óc. Những người có khả năng đặc biệt như Tả Luân Nhãn của bộ tộc Uchiha hay những người có trí thông minh cao sẽ dễ dàng thực hiện và chống trả ảo thuật hơn, vì sự cảnh giác là mấu chốt. Kiểu ảo thuật phổ biến nhất là tạo ra ảo ảnh thông thường – khiến cho đối thủ nghe, thấy, ngửi, nếm, và/hay cảm giác những thứ không thực sự ở đó để có thể điều khiển chúng. Nói cách khác, ảo thuật ảnh hưởng đến 5 giác quan, tuy nhiên những ứng dụng khác của ảo thuật còn tồn tại. Những người chịu ảnh hưởng của ảo thuật sẽ bị tê liệt tại chỗ hay mất tỉnh táo, tùy thuộc vào việc họ có khả năng nhận diện và chống lại chúng như thế nào.[12]

Có vài cách để chống ảo thuật. Bởi vì nó sử dụng chính chakra của đối thủ, đối thủ có thể hóa giải ảo thuật bằng cách phá vỡ dòng chảy chakra của chính họ. Việc này gọi là Ảo thuật Giải|幻術解|Genjutsu Kai. Ngoài ra, nếu họ thất bại trong việc giải ảo thuật, sự đau đớn nhức nhối (tuy nhiên nó phải không được tạo ra bởi ảo thuật) có thể khiến họ thoát khỏi nó. Một người khác có thể phá vỡ dòng chảy chakra cho họ bằng cách truyền chakra của chính người đó vào cơ thể họ. Cuối cùng, nếu đồng đội của nạn nhân tấn công kẻ niệm ảo thuật, thuật sẽ bị hóa giải và nạn nhân được giải thoát.

Huyết kế giới hạn[sửa | sửa mã nguồn]

Từ trên xuống: Luân Hồi Nhãn, Bạch Nhãn, Tả Luân Nhãn

Huyết kế Giới hạn–血継限界|Kekkai Genkai là những khả năng được di truyền trong một bộ tộc nhất định. Hầu hết bộ tộc đều sáng chế ra loại thuật đặc biệt liên quan đến huyết kế giới hạn của họ và thuật đó không thể được dạy hay sao chép bởi người khác, vì chúng cần đặc điểm di truyền nhất định. Khả năng huyết kế giới hạn mà hoạt động qua đôi mắt gọi là đồng thuật–瞳術|dōjutsu, ví dụ như Bạch Nhãn, Tả Luân Nhãn, và Luân Hồi Nhãn.[12] Huyết kế giới hạn khác, như khả năng về Mộc Độn của Hokage Đệ Nhất và Yamato, Băng thuật của Haku được sáng tạo theo sự kết hợp của hai yếu tố chakra riêng biệt(nước và gió)

Nhẫn thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Nhẫn thuật–忍術|ninjutsu là một khái niệm mơ hồ chỉ đến hầu như bất kỳ thuật nào sử dụng chakra và khiến họ có thể làm những việc phi thường. Dạng nhẫn thuật cổ xưa nhất được cho là do người sở hữu Luân Hồi Nhãn đầu tiên sáng tạo ra. Không như ảo thuật, tác dụng của nhẫn thuật đều là thực. Nhẫn thuật cần chakra và, hầu như mọi lúc, thủ ấn (mỗi thủ ấn là một con vật khác nhau trong hoàng đạo Trung Quốc) để hoạt động. Đôi tay được theo những vị trí trong một chuỗi nhờ đó hình thành chakra đúng cách để thực hiện thuật. Dù sao chúng cũng không phải là luôn luôn cần thiết và một vài loại thuật đơn giản có vẻ như đã trở thành bản năng thứ hai của các ninja kinh nghiệm khi họ có thể thực hiện chúng bằng ý chí. Hơn nữa, vài thuật có thể được xếp vào loại tố thuật khi chúng sử dụng một yếu tố nhất định: địa–土遁|Doton, lôi–雷遁|Raiton, hỏa–火遁|Katon, phong–風遁|Fūton, thủy–水遁|Suiton. Cụm từ "Nhẫn Pháp" (忍法–Ninpō) thường được thêm vào đầu bất kỳ một thuật nào khác tố thuật.[12]

Phong ấn thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Phong ấn thuật–封印術|Fūin jutsu là một thuật để phong ấn một thứ gì đó vào trong một vật thể hay cơ thể sống. Ứng dụng phổ biến nhất của thuật này là phong ấn vũ khí hay vật thể khác vào trong những ống cuộn để mang một số lượng lớn đồ vật theo một cách tiện lợi. Phong ấn thuật cũng được dùng để ngăn cấm sự tiếp cận với một vật thể nào đó, như chakra hay lối vào một tòa nhà.[11]

Tiên thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tiên thuật–仙術|senjutsu chỉ đến việc sử dụng chakra được tạo từ năng lượng tinh thần và cơ thể bên trong một ninja kết hợp với năng lượng tự nhiên. Kết quả là đòn tấn công vật lý và thuật được gia tăng sức mạnh đáng kể. Có vẻ như chúng bắt nguồn từ loài cóc, vì chỉ có Jiraiya và Naruto đã sử dụng chúng, còn Gamakichi là nhân vật duy nhất thân thuộc với nó. Có thêm cả Kabuto đã sử dụng năng lượng tự nhiên từ loài rắn và Hokage đệ nhất sử dụng tiên thuật mộc độn để giao chiến với Madara.

Thể thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Thể thuật–体術|taijutsu chỉ đến bất kỳ thuật nào có võ thuật hay hoàn thiện khả năng tự nhiên của con người. Nói cách khác, thể thuật được thực hiện bằng cách sử dụng trực tiếp thể lực của người dùng, chứ không chuyển thể lực sang chakra để thực hiện nhẫn thuật hay ảo thuật, nghĩa là thể thuật có thể được thực hiện nhanh hơn nhẫn thuật và ảo thuật (dù vậy không phải lúc nào cũng mạnh bằng). Trong vài trường hợp, chakra được dùng để tiếp sức cho thuật, điển hình là trong thế võ Nhu quyền của bộ tộc Hyuga khi người dùng phóng một lượng nhỏ chakra vào cơ thể người đó để tấn công hệ chakra hay điểm chakra, và với Tsunade cùng Sakura họ lại kết hợp chakra vào đòn tấn công để gia tăng sức mạnh. Nói tóm lược, hầu hết người sử dụng thể thuật ít khi dùng đến chakra, như Rock Lee và Might Guy.[12]

Thuật thường bắt gặp[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều thuật chỉ được thực hiện một lần trong suốt truyện hay chỉ được sử dụng bởi một nhân vật. Những thuật sau là những thuật thường được sử dụng trong suốt truyện bởi hơn một nhân vật.

Bạch Nhãn[sửa | sửa mã nguồn]

Neji đang dùng Bạch Nhãn

Bạch Nhãn–白眼|Byakugan là một đồng thuật–瞳術|dōjutsu tự động bộc phát ở các thành viên trong bộ tộc Hyuga.[13] Những người sở hữu Bạch Nhãn trở nên khác biệt nhờ đôi mắt trắng và không có đồng tử. Khi Bạch Nhãn được kích hoạt, con ngươi có vẻ như xuất hiện và những mạch máu ở gần thái dương phồng lên. Những người sở hữu Bạch Nhãn cũng có thể sử dụng Nhu quyền.[14]

Một người có Bạch Nhãn sở hữu tầm nhìn rộng 360 độ, ngoại trừ một điểm mù nhỏ ở phía sau cổ ở trên đốt sống ngực thứ 3.[15] Người dùng Bạch Nhãn có thể phát hiện ra mọi thứ ở xung quanh họ trong một bán kính nhỏ. Kĩ năng của người dùng Bạch Nhãn càng cao, bán kính này càng lớn, điều đó khiến họ trở thành chuyên gia cận chiến. Bạch Nhãn còn khiến người dùng có khả năng nhìn xuyên qua hầu như mọi vật chất từ một khoảng cách rất xa. Ở đây cũng có một chút góc độ về mặt kính thiên văn, vì người dùng Bạch Nhãn có thể tập trung vào một vật thể từ bất kỳ điểm nào ở một khoảng cách xa.[11]

Việc bảo vệ Bạch Nhãn trở nên rất quan trọng với bộ tộc Hyuga, và đã dẫn đến việc tạo ra thứ bậc gia đình. Thành viên của phân gia bị khắc vào một loại chú ấn lên trán khi còn nhỏ. Mỗi khi một thành viên phân gia chết, chú ấn sẽ biến mất và phong ấn khả năng Bạch Nhãn nên kẻ thù không thể khám phá ra bí mật của nó.

IGN xếp hạng Bạch Nhãn ở vị trí thứ 3 trong Mười Thuật Đứng Đầu Naruto, nói rằng ứng dụng của loại thuật này vào cuộc sống hằng ngày là vô tận.[16]

Thiên Điểu[sửa | sửa mã nguồn]

Sasuke đang dùng Thiên Điểu

Thiên Điểu (千鳥,Chidori) là một ví dụ của vận động tự nhiên được sáng tạo bởi Hatake Kakashi.[17] Thiên Điểu yêu cầu người dùng phải dẫn một lượng chakra sét rất lớn về bàn tay, nhiều đến nỗi chakra vô hình thông thường trở nên hiện hình trước mắt thường. Vì sự tập trung điện lực cao độ mà chiêu này tạo ra, nó phát ra âm thanh giống như của hàng ngàn con chim (dẫn đến cái tên). Khi đòn tấn công được hình thành người dùng lao đến đối thủ và đâm thẳng cánh tay vào một phần cơ thể, như trái tim. Thuật này dù gây sát thương nghiêm trọng đến đối thủ, người dùng chiêu thức này phải đạt đến tốc độ cực hạn của con người, khiến họ dễ bị sơ hở.[18] Tuy nhiên nếu người dùng có Tả Luân Nhãn, họ có thể nhìn chi tiết hơn khi di chuyển, và họ có thể phản công.[19] Thuật Thiên Điểu là một thuật dùng kỹ năng biến đổi thuộc tính.

Thiên Điểu cần sự điều khiển rất cao để có thể tận dụng triệt để; người sáng tạo ra thuật, Kakashi, đã đạt đến ngưỡng kĩ năng cao nhất của thuật. Vì vậy, phiên bản của Kakashi có cái tên Lôi Thiết–雷切|Raikiri, một dạng cấp cao hơn của thuật mà với nó anh đã từng cắt qua một tia sét.[20] Vì lượng chakra cần thiết rất cao, những người có thể thực hiện nó bị giới hạn số lần sử dụng một ngày rất ít. Uchiha Sasuke đã sử dụng nguyên tắc cơ bản đằng sau Thiên Điểu để tạo ra nhiều đòn tấn công sét.

Thiên Điểu đứng hạng 2 trong bài viết Mười Thuật Đứng Đầu Naruto của IGN.[16]

Nhu quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Nhu Quyền–柔拳|Jūken hướng tới việc gây tổn thương hệ tuần hoàn chakra của đối thủ, nhờ đó ngăn chặn đối phương sử dụng chakra, bằng cách khiến cho khu vực bị tấn công của đối thủ bị trệch hướng dòng chảy chakra và ngoài ra còn làm tổn thương nội tạng đối thủ. Thậm chí chỉ một cái gõ nhẹ của loại quyền này cũng có thể gây tổn thương nặng, dẫn đến cái tên. Bởi vì không có cách nào để rèn luyện cho nội tạng con người mạnh hơn, loại quyền này có thể gây tổn thương nặng dù cơ thể đối thủ mạnh mẽ đến đâu. Do hệ tuần hoàn chakra nằm trong cơ thể, cần có Bạch Nhãn để có thể sử dụng hiệu quả thuật này và vì thế nó chỉ thuộc về bộ tộc Hyuga.

Để nhanh chóng ngăn chặn khả năng sử dụng chakra của đối thủ, người dùng Nhu quyền có thể thực hiện Bát Quái Lục Thập Tứ Chưởng–八卦六十四掌|Hakke Rokujūyon Shō để tấn công những điểm chakra riêng biệt trên cơ thể đối thủ bằng một loạt các đòn chưởng nhanh hơn và mạnh hơn.[21] Một khi đã hoàn tất thuật này sẽ triệt tiêu hiệu quả khả năng sử dụng chakra của đối thủ khiến chúng di chuyển khó khăn hơn. Cũng một thao tác để ngăn chặn đối thủ dùng chakra có thể được dùng làm khiên; với Bát Quái Chưởng Hồi Thiên–八卦掌回天|Hakkeshō Kaiten, người dùng giải phóng một lượng lớn chakra từ các điểm chakra khi bị tấn công. Lượng chakra được giải phóng sẽ đỡ bất kỳ đòn tấn công vật lý nào, và người dùng chỉ cần xoay người liên tục, vừa để tạo một tấm khiên chakra xung quanh họ vừa để hất tung bất kỳ kẻ tấn công nào.[21] Vì sự hiệu nghiệm và sức mạnh của thuật, chỉ có những thành viên tông gia của bộ tộc Hyuga được dạy chiêu thức, dù vậy những người dùng Nhu quyền xuất chúng có thể sao chép chiêu thuật mà không cần ai dạy. Cả Hyuga NejiHyuga Hinata sử dụng những nguyên tắc cơ bản đằng sau thuật này để tạo ra những thuật của riêng họ.

Mộc Độn[sửa | sửa mã nguồn]

Mộc Độn–木遁|Mokuton thuật là những thuật kết hợp chakra đất và nước để tạo ra cây cối, những loài cây đặc biệt với nhiều kích cỡ và hình dáng. Mộc tố thuật có thể tạo ra ở bất kỳ đâu, ngay cả cơ thể người dùng, vì chakra của người dùng được chuyển đổi hoàn toàn thành nguồn sự sống. Hokage Đệ Nhất, người đầu tiên được biết là sử dụng thuật, đã dùng nó để cho mọc những khu rừng mà làm tiền đề cho sự thành lập nên Mộc Diệp, và đó là lý do chính cho việc ngài được phong làm Hokage. Sau khi Đệ Nhất qua đời, Yamato đã được Orochimaru tiêm vào ADN của Đệ Nhất với tham vọng tái tạo lại chiêu thuật. Yamato đã sống sót sau cuộc thí nghiệm và là người sống duy nhất được biết là có thể dùng Mộc tố.

Vì Yamato hiện là người duy nhất dùng Mộc độn, nhiều thuật có liên quan chỉ được một mình anh dùng. Anh thường xuyên tạo phân thân và khiên chắn bằng gỗ. Còn với những mục đích phức tạp hơn, Yamato có thể tạo ra hoàn toàn một ngôi nhà với những đặc điểm cơ bản như cổng, cửa sổ, và bao lơn.

Chú ấn của Orochimaru[sửa | sửa mã nguồn]

Dấu chú ấn của Sasuke

Chú ấn của Orochimaru được tạo ra ban đầu qua cuộc thí nghiệm với Juugo. Cơ thể của Jugo một cách tự nhiên sản sinh ra một loại enzym có thể biến người dùng sang nhiều loại hình hài khác nhau, tăng nguồn chakra của họ lên nhanh chóng. Bằng cách chiết xuất loại enzym này từ cơ thể Jugo và tinh chế lại nó, Orochimaru có thể áp dụng nó với bất kỳ đệ tử nào hắn muốn.

Một khi chú ấn được áp dụng, người đó chỉ có 10% cơ hội sống sót và họ bất tỉnh trong khi cơ thể họ nhận hay đẩy chú ấn ra. Nếu sống sót, người đó sẽ có thể sử dụng chú ấn cấp một. Khi được kích hoạt, hoa văn chú ấn riêng biệt sẽ phát tán khắp cơ thể từ điểm bắt đầu; cơ thể càng bị che phủ, người dùng càng bị hút về sức mạnh của chú ấn. Loại ấn này tự động hút chakra từ cơ thể người dùng và khiến họ có thể trạng mạnh mẽ, dù vậy hậu quả là khiến họ đuối sức khi ấn bị hóa giải. Tâm trí họ từ từ bị ăn mòn khi ấn đang kích hoạt, và chú ấn tiến đến cấp hai.

Quá trình tiến đến cấp hai của chú ấn là một quá trình dài, đến nỗi Orochimaru đã tạo ra một loại thuốc đặc biệt để tăng tốc quá trình. Khi đã đạt đến cấp hai, người dùng hoàn thành thuật với chú ấn bao bọc khắp cơ thể. Sau đó là cơ thể người dùng biến đổi một cách dị thường, với đặc điểm chung duy nhất là đôi mắt vàng với màng cứng màu đen. Những người sử dụng ấn điêu luyện có thể thực hiện việc biến hình không hoàn chỉnh, khi đó có thể đạt đến cấp hai mà không cần biến hình hoàn toàn. Sức mạnh của chú ấn có thể đồng bộ hóa với cơ thể bình thường của người dùng, gia tăng sức mạnh tự nhiên của người đó.

Thuật Khối Lỗi[sửa | sửa mã nguồn]

Khối Lỗi Chi Thuật–傀儡の術|Kugutsu no Jutsu đã được sáng tạo để chuyển một loại hình giải trí sang một phương pháp chiến đấu. Thuật này sử dụng những sợi chakra kéo dài từ ngón tay người dùng để điều khiển con rối. Những người có thể sử dụng chiêu này hiệu quả rất hiếm, nhưng khi đã điêu luyện người dùng có thể trốn sau một nơi an toàn và dùng con rối để tấn công. Những người điều khiển rối thành thạo có thể điều khiển nhiều con rối cùng một lúc, Chiyo có thể sử dụng mỗi một trong 10 ngón tay để điều khiển một con rối. Sợi dây chakra cũng cho phép người điều khiển rối điều khiển người hay vật thể khác.[11]

Nghệ thuật rối có nhiều ứng dụng từ người này sang người khác, vì rối có thể được trang bị nhiều vũ khí và công cụ khác nhau để trận đánh dễ dàng hơn. Người điều khiển có thể kết hợp nhiều con rối với nhau để tăng hiệu quả; lấy ví dụ, Kankuro có thể sử dụng một con rối để bắt giữ kẻ địch trong khi con thứ 2 tấn công bằng vũ khí. Tuy vậy, những con rối bình thường chỉ dùng được đòn tấn công không phụ thuộc chakra, vì những vật vô tri vô giác không thể sử dụng chúng. Sasori đã bù đắp sự thiếu sót này bằng cách chuyển đổi cơ thể của một người sống thành một con rối. Bởi vì chúng từng là con người, những "con rối" này có thể thực hiện thuật, khiến chúng có lợi thế hơn so với con khác.

Rasengan[sửa | sửa mã nguồn]

Naruto đang dùng Rasengan

Rasengan–螺旋丸|Rasengan là một thuật sáng tạo bởi Namikaze Minato sau 3 năm. Nó không cần một thủ ấn nào, thay vào đó hoàn toàn dựa vào khả năng điều khiển chakra của người dùng.[22] Rasengan nghiền nát bất cứ thứ gì nó đụng phải, gây sát thương lớn cũng như nội thương đáng kể. Nếu cần, hiệu lực của đòn tấn công có thể được giảm để không gây nguy hiểm cho mục tiêu. Khác với Thiên Điểu của Sasuke, Rasengan là thuật dùng kỹ năng biến đổi hình thái.

Trình độ điều khiển chakra cần thiết phải rất cao, vì vậy việc truyền đạt thuật được phân ra giai đoạn trong đó người dùng điều khiển chakra trong một quả bóng. Minato dạy chiêu Rasengan cho học trò của mình, Hatake Kakashi, và cựu giáo viên mình Jiraiya, người mà về sau đến lượt dạy cho Uzumaki Naruto, sau này, naruto đã dạy thuật này cho Konohamaru. Trong khi hầu hết những người điêu luyện thuật này có thể dùng nó với một tay, Naruto phải sử dụng 3 hoặc nhiều tay hơn với sự trợ giúp của một ảnh phân thân – một tay để cung cấp chakra và những tay kia để xoay tròn và định hình nó.[23] Mặc dù cậu ta vẫn tiếp tục cố gắng khiến Rasengan dễ hình thành hơn, Naruto đã có thể tạo nó bằng một tay khi cậu ở trong áo choàng Cửu Vĩ Yêu Hồ.Khi ở trạng thái Tiên nhân,cậu cũng có thể tạo ra Rasengan thông thường,và thậm chí là 2 Loa toàn hoàn ở 2 tay

Naruto cũng đã thành công trong việc nạp thuộc tính chakra Phong của mình vào Rasengan (điều mà ngay cả Hokage Đệ Tứ cũng không làm được) để tạo ra Phong Độn: Rasenshuriken (Futon: Rasenshuriken|風遁・螺旋手裏劍). Rasenshuriken có hình dáng như một cái phi tiêu lớn với trung tâm là quả cầu rasengan, tuy không ném đi được nhưng nó có một sức công phá và sát thương khủng khiếp, khi chạm vào đối phương và phát nổ Rasenshuriken sẽ biến thành hàng tỉ những phi tiêu chakra cực nhỏ và hủy diệt đến từng tế bào của đối phương nhưng thuật này cũng mang đến những nguy hại rất lớn cho người sử dụng, điển hình là bàn tay của người đó.

Rasenshuriken được thực hiện khi Naruto ở trạng thái bình thường hoặc Tiên Nhân (sử dụng Tiên Thuật) có thể ném ra và tấn công từ xa được như một cái phi tiêu. Đòn đánh này có tầm đánh và phạm vi sát thương lớn hơn Rasenshuriken cũ nhiều vì nó có thể tự khuếch đại lên và phân thân,mức hủy diệt cũng cao hơn và ít gây hại cho người sử dụng hơn. Naruto dùng nó lần đầu là để tấn công Kakuzu.

Odama Ransengan Chiêu thức mà Naruto học được khi cùng Jiraiya tập luyện. Odoma Rasengan là một quả Rasengan khổng lồ tấn công một sức mạnh hơn Rasengan gấp vạn lần.

Ransenrengan Chiêu này Naruto có thể dùng hai quả Rasengan cùng một lúc. Sức mạnh của nó gấp đôi Rasengan. Naruto chỉ dùng khi có tiên thuật.

Ảnh Phân Thân Chi Thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh Phân Thân Chi Thuật–影分身の術|Kage Bunshin no Jutsu tạo ra những phân thân thật sự, không phải ảo ảnh, với bất kỳ tổn thương hay vũ khí gì người ban đầu có. Chakra của người dùng được chia đều ra mỗi phân thân. Vì vậy, chính thuật này cũng được coi là nguy hiểm; khi tạo ra nhiều phân thân của một người thì chakra người đó có thể tiêu hao rất nhanh. Thuật này còn được coi là nguy hiểm hơn với dạng cấm kị, Đa Trọng Ảnh Phân Thân Chi Thuật–多重影分身の術|Tajū Kage Bunshin no Jutsu. Trong khi thuật Ảnh Phân Thân bình thường tạo ra không nhiều hơn 5 phân thân, phiên bản Đa Trọng cho phép tạo ra số lượng phân thân vô hạn một khi người dùng có đủ chakra. Vì sự nguy hiểm của thuật nó thường chỉ được sử dụng bởi ninja cao cấp, từ Thượng đẳng trở lên. Tuy nhiên, Uzumaki Naruto đã học thuật này đầu tiên để trở thành ninja, và nhờ lượng chakra dồi dào cậu ta có thể sử dụng nó để tạo ra hàng nghìn phân thân và không lo đến việc hết chakra.

Bất kỳ kinh nghiệm nào ảnh phân thân tiếp nhận khi hiện hữu đều được chuyển về người dùng một khi chúng biến mất (xảy ra khi phân thân tự hành động hay sau khi nó bị tấn công). Điều này khiến cho thuật rất lý tưởng để do thám, vì người dùng có thể đơn giản gửi một phân thân đi tiếp cận mục tiêu và cho phân thân tự biến mất để chuyển thông tin về người dùng. Nó cũng hữu dụng cho việc tập luyện, vì tổng số kinh nghiệm người dùng có được sẽ nhân lên với số phân thân được dùng trong tập luyện.

Trong một cuộc phỏng vấn, Maile Flanagan, nữ diễn viên lồng tiếng cho Naruto trong phim tiếng Anh, khẳng định rằng cảnh phân thân là cảnh cô thích lồng tiếng nhất.[24]

Tả Luân Nhãn[sửa | sửa mã nguồn]

Tả Luân Nhãn đang ở cấp 3

Tả Luân Nhãn–写輪眼|Sharingan là một đồng thuật–瞳術|dōjutsu tự động bộc phát ở một số ít thành viên chọn lọc trong bộ tộc Uchiha. Tả Luân Nhãn được cho là thừa kế từ Luân Hồi Nhãn,[25] nhưng cho người dùng những khả năng và nội nhãn khác. Tả Luân Nhãn không tự động xuất hiện từ khi mới sinh; thay vào đó, nó sẽ thường xuất hiện khi người đó ở trong tình huống đe dọa-tính mạng, khi đó sức mạnh của Tả Luân Nhãn có thể cứu sống họ. Sau sự xuất hiện đầu tiên, người dùng có thể gọi Tả Luân Nhãn lên bất cứ khi nào họ muốn. Sức mạnh của Tả Luân Nhãn được quyết định bằng số ba (tiếng Nhật:tomoe–巴) trong mắt, với số lượng tối đa là 3 ở mỗi con. Những nhân vật sở hữu Tả Luân Nhãn trong cốt truyện Naruto hiện là Uchiha Sasuke, Uchiha Itachi, Hatake Kakashi, Uchiha Madara, Danzo và Tobi.

Khả năng đầu tiên và phổ biến nhất của Tả Luân Nhãn là ghi nhớ bất kỳ thuật gì nó thấy được. Nó có thể ghi nhớ bất kỳ dạng thuật cơ bản nào với độ chính xác cao, giúp người dùng có thể dùng thuật đó cho riêng mình. Tuy nhiên để có thể tái tạo thuật đã copy, người đó cần phải có những kỹ năng và khả năng cần thiết để thực hiện.[26]

Khả năng thứ hai của Tả Luân Nhãn là giúp người dùng có được một thị giác cực kỳ hoàn hảo, khiến họ có thể theo dõi những vật di chuyển nhanh lẹ một cách thoải mái và thậm chí còn dự đoán được chuyển động tiếp theo của vật đó.[27] Một Tả Luân Nhãn khi đã hoàn toàn phát triển có thể theo dõi cả một đối thủ nhanh nhất.[28] Thị lực này cũng tuyệt đến mức nhìn được qua ảo thuật và quan sát được dòng chảy chakra, nhưng không có độ rõ ràng như Bạch Nhãn.[29]

Khả năng thứ ba của Tả Luân Nhãn là một loại thôi miên riêng biệt hoạt động bằng cách nói ra những hành động và ý nghĩ với đối thủ. Khi được sử dụng cùng với những khía cạnh đã dề cập ở trên của Tả Luân Nhãn, nó có thể giúp người dùng bắt chước hoàn hảo mọi chuyển động của kẻ thù, thậm chí trước khi chúng chuyển động, làm cho giống như người dùng có thể thấy tương lai.[30] Nó cũng có thể tạo ra các dạng thôi miên khác, như ru ngủ đối thủ, chạy lại những ký ức với một người nào đó, tạo ra nhiều ảo ảnh để lừa gạt đối thủ, hay thậm chí điều khiển chúng.

Có thể cấy ghép một con mắt Tả Luân Nhãn từ người này sang người khác, như với Kakashi và đồng đội đã chết của anh Uchiha Obito.[31] Dù sao, con mắt được cấy ghép không hoạt động hiệu quả ở trong một cơ thể khác Uchiha; con mắt của Kakashi lúc nào cũng hoạt động, khiến anh trở nên rất căng thẳng khi dùng nó và khiến anh phải hồi sức trong một quãng thời gian dài sau cuộc chiến. Thành viên của Uchiha không phải chịu gánh nặng này; dù việc kích hoạt Tả Luân Nhãn có tiêu tốn chakra, số lượng lại rất nhỏ đến nỗi không đáng kể. Điển hình là Itachi có vẻ như không gặp khó khăn khi gần như liên tục giữ Tả luân Nhãn kích hoạt.

Vạn Hoa Đồng Tả Luân Nhãn[sửa | sửa mã nguồn]

Vạn Hoa Kính Tả Luân Nhãn–万華鏡写輪眼|Mangekyou Sharingan là một dạng cao cấp của Tả Luân Nhãn. Nó được gọi lên đầu tiên bởi Uchiha Madara,[32] người đã có thể dùng nó để điều khiển Hồ ly chín đuôi. Qua nhiều thế hệ các thành viên Uchiha khác đã có được Vạn Hoa Đồng Tả Luân Nhãn của riêng mình,[33] dù vậy Uchiha Madara, Uchiha Itachi, Hatake Kakashi, Uchiha Izuna, Uchiha SasukeUchiha Obito là những nhân vật duy nhất sở hữu nó trong cốt truyện Naruto hiện tại. Không giống Tả Luân Nhãn thông thường, Vạn Hoa Đồng Tả Luân Nhãn khác nhau ở mỗi người, có hình dạng ba của Tả Luân Nhãn khác nhau. Những người sở hữu Vạn Hoa Đồng Tả Luân Nhãn phải chịu một thị lực hư hỏng suốt đời, một quá trình diễn ra nhanh hơn với mỗi một lần sử dụng và cuối cùng là dẫn đến mù mắt.[34] Chỉ có lấy đi con mắt của người cùng ruột thịt mới có thể hồi phục hoàn toàn vĩnh viễn thị lực, và kết hợp hai loại Vạn Hoa Đồng Tả Luân Nhãn khiến người đó có sức mạnh hoàn hảo.[35] Những chiêu thức mạnh nhất của Vạn Hoa Đồng Tả Luân Nhãn bao gồm Amaterasu(Lửa địa ngục), Tsukuyomi(Thần Mặt Trăng), Kamui(vặn xoắn không gian), Susanoo(Thần biển cả và bão tố)... Khi Vạn Hoa Đồng Tả Luân Nhãn được tiết lộ lần đầu, Itachi bảo Sasuke rằng chỉ có được nó khi giết đi người bạn thân nhất.[36] Dù Itachi và nhiều người Uchiha khác đã làm việc này để có được cho riêng mình, ít nhất thì còn một cách khác: sau khi Itachi chết với tư cách là một người cùng Sasuke chia sẻ mối quan hệ thân thiết, Vạn Hoa Đồng Tả Luân Nhãn của Sasuke được gọi lên. Vì thế, nếu không phải bằng một trong hai phương pháp trên thì việc Kakashi đã có được Vạn Hoa Đồng Tả Luân Nhãn là khi cậu giết chết Rin vì Rin bị bắt làm Jinjuriki, lúc đó cậu vô cùng đau khổ và kích hoạt được Vạn Hoa Đồng Tả Luân Nhãn,nhưng không biết vì sao đến phần 2 cậu mới dùng được.

Tsukuyomi – Thần Mặt Trăng Được dùng bởi Uchiha Itachi. Tsukuyomi, tên của Thần Mặt Trăng, là loại ảo thuật (genjustu) dùng dạng Mangekyou của Sharingan để tạo những ảo giác mạnh mẽ nhất. Itachi đã dùng mắt trái của mình để sử dụng thuật này. Ảo thuật cao cấp này rất ít khi Itachi sử dụng bởi vì đặc tính nguy hiểm của nó lên bản thân người dùng. Để sử dụng, người dùng Tsukuyomi nhìn thẳng vào mắt của đối phương và cài đặt ảo thuật lên họ. Người bị rơi vào ảo giác của Tsukuyomi hoàn toàn bị khống chế, không thể vận dụng bất kỳ một chiêu thứ nào để có thể phản công lại. Người điều khiển Tsukuyomi có thể hành hạ đối phương trong ảo giác bao nhiêu lâu tùy thích. Thực tế thì khoảng thời gian bên ngoài chỉ có vài giây, nhưng đối với người rơi vào Tsukuyomi thì có thể là vài ngày đã trôi qua. Đau đớn triền miên không bao giờ chấm dứt hay thoát khỏi được ảo thuật của Tsukuyomi. Là một người bình thường thì không thể thoát khỏi Tsukuyomi, nhưng nếu là một Uchiha thì sẽ có khả năng thoát khỏi hiệu lực của nó. Với những ai có Mangekyou Sharingan thì khỏi cần nhắc đến, đương nhiên là có thể thoát ra được Tsukuyomi, tuy không dễ dàng nhưng cũng không quá vất vả. Với một đôi mắt Sharingan bình thường khi đã được rèn luyện ở mức độ cao cũng có thể thoát khỏi ảo thuật này bởi vì Tsukuyomi không thể sử dụng ở một thời gian dài vì có ảnh hưởng nguy hiểm đến người dùng.

Susanoo – Thần biển cả và bão tố Được dùng bởi Uchiha Madara, Uchiha ItachiUchiha Sasuke. Susanoo, tên của một vị thần cai quản biển cả và bão tố, là một chiêu thức sử dụng dạng Mangekyou của Sharigan tạo nên 1 bóng ma cầm kiếm khổng lồ bao bọc quanh người điều khiển. Để tạo nên chiêu thức này cần sử dụng cả 2 mắt. Hình dạng đầu tiên của Susanoo chỉ là một bộ xương, nhưng từ từ, theo đà phát triển của trận đấu, Susanoo có da thịt và áo giáp, 2 tay cầm cả khiên lẫn kiếm để vừa tấn công vừa phòng thủ. Thanh kiếm được tạo ra từ biến thể của rượu sake trong quả bầu nậm bóng ma đang cầm. Đây là một trong những thanh kiếm trong truyền thuyết, kiếm của Totsuka, thanh Sakegari huyền thoại. Bất kỳ ai hay vật gì bị thanh kiếm này đâm vào đều bị phong ấn trong Genjutsu vĩnh viễn. Người ta nói rằng đây là thanh kiếm duy nhất có thể khắc chế được thanh Kusanagi của Orochimaru. Còn cái khiên được gọi là khiên của Yata, có thể chống đỡ được tất cả bất kỳ đòn tấn công nào. Người sở hữu được thanh kiếm Sakegari và khiên của Yata gần như là bất bại. Tuy nhiên, cũng giống như tất cả mọi đòn tấn công khác của Mangekyou Sharingan, Susanoo có nhược điểm chí mạng là làm cho người điều khiển nó càng ngày càng mất dần đi thị lực. Sasuke có được thuật này khi được Itachi truyền hết nhãn lực. Susanoo của Sasuke khác của Itachi ở chỗ Sasunoo của Sasuke không sử dụng kiếm và tấm khiên, mà sử dụng cung tên ở mỗi bàn tay

Kamui Người sử dụng: Hatake Kakashi và Uchiha Madara, Uchiha Obito.Kamui là nhẫn thuật sử dụng Mangekyou Sharingan để tạo ra chiều không gian vặn xoắn để dịch chuyển đối phương từ nơi này sang nơi khác. Để khởi động Kamui, Kakashi phải dùng thủ ấn để chuyển đổi Sharingan cấp 3 của mình sang Mangekyou Sharingan. Sau đó anh chăm chú nhìn vào chỗ đối phương mình khiến cho không gian xung quanh bắt đầu biến đổi và dịch chuyển đối phương sang một địa điểm khác. Để thực hiện chiêu thức này, Kakashi đã phải cố gắng tính toán chakra nghiêm túc bởi vì lượng chakra mà nó tiêu thụ. Kakashi có thể sử dụng Kamui 2 lần và nếu sử dụng hơn thì sẽ vượt quá tầm kiểm soát, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mạng sống của anh. Sau khi sử dụng xong Kamui, Kakashi không giữ được dạng Mangekyou mà trở lại dạng Sharingan bình thường. Trong khi đó Madara lại sử dụng chiêu này không mấy khó khăn

Tensha Fuuin * Amaterasu - Ấn cài đặt * Nữ thần mặt trời (hào quang từ thiên đường)

Người sử dụng: Uchiha Itachi, Uchiha Sasuke. Tensha Fuuin * Amaterasu là một Fuuinjutsu được sử dụng bởi Itachi. Để bảo vệ em trai khỏi sự tiếp xúc của Madara, Itachi đã cài đặt Amaterasu vào mắt trái của Sasuke. Khi nhìn thấy Sharingan của Madara, mắt Sasuke sẽ chảy máu và biến đổi thành dạng Mangekyou Sharingan của Itachi, đồng thời cũng phóng ra Amaterasu đốt cháy Madara. Ngọn lửa của thuật này có màu đen và không thể dập tắt trừ phi người (hay vật) dính thuật cháy thành tro hay người có Mangekyou Sharingan khống chế. Sau khi dùng thuật này, người sủ dụng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng (thị lực yếu đi, chảy máu mắt...)

Izanagi Người sử dụng: Danzou, Uchiha Madara, Uchiha Obito. Chiêu thức này có thể vô hiệu hóa mọi đòn tấn công của đối thủ, tựa như một giấc mơ. Là thuật có thể hòa lẫn ảo ảnh và hiện thực, Lục đạo chân nhân đã dùng thuật này để tạo ra Thập vĩ jyubi. Danzo sử dụng thuật thông qua những con mắt Sharingan trên cánh tay và hết tác dụng khi tất cả các con mắt đều nhắm lại. Đây là một loại cấm thuật mà cả những người trong dòng tộc Uchiha cũng không được phép sử dụng. Người có thể sử dụng thuật này phải có được sức mạnh của cả 2 tộc Uchiha và Senju và cái giá phải trả là vĩnh viễn mất đi ánh sáng.

Izanami Người sử dụng: Uchiha Itachi. Là nhẫn thuật hoạt động dựa trên ý thức của người điểu khiển và kẻ địch. Nó được tạo ra để cứu những người sử dụng Izanagi, đó là một vòng tuần hoàn của một sự việc.

Thuật Triệu Hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Vật triệu tập thường được gọi ra trong một đống khói với Triệu Hồi Chi Thuật–口寄せの術|Kuchiyose no Jutsu. Trước khi có thể triệu tập, người dùng ký một bản giao kèo bằng chính máu của mình, mỗi giao kèo khác nhau dựa theo con vật được triệu tập. Một khi đã xong, người triệu tập chỉ cần thực hiện chính xác thủ ấn và cho thêm một chút máu từ cùng bàn tay mà họ dùng để ký giao kèo. Lượng chakra cần thiết lúc này cân xứng với kích cỡ của con vật được triệu tập. Vật triệu tập có những chiêu thức mà chúng tự sử dụng hoặc dùng kết hợp với người triệu tập. Vài vật triệu tập còn mạnh đến mức thách thức người triệu tập, hay sẽ yêu cầu thứ gì đó để tham gia trận chiến.[37]

Trong vài trường hợp, có thể gọi ra những vật thể bất động, như Orochimaru[38]Sakon và Ukon[39] làm với cổng La Sinh Môn(tiếng Nhật:Rashōmon) và Tenten với vũ khí đặc biệt. Cũng như với vật triệu tập sống, vật triệu tập bất động cần máu.[40]

Thuật Thủy độn[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật thủy độn thường được dùng bởi ninja đến từ làng Sương mù như Momochi Zabuza; Hatake Kakashi, trước đây đã từng chiến đấu với ninja từ làng Sương mù cũng có thể dùng vài thuật thủy độn. Hầu hết các thuật thủy độn cần một nguồn nước có sẵn để thực hiện, như một cái hồ hay vũng nước. Dù sao, Hoshigaki KisameHokage Đệ Nhị có thể tạo ra nước từ cơ thể của mình để dùng cho thuật. Một trong thuật những ngoại lệ là Thủy Độn: Thủy Trận Bích–水遁・水陣壁|Suiton: Suijinheki, để người dùng có thể phun bức tường bảo vệ bằng nước từ miệng dù vậy họ cũng có thể dùng nguồn nước khác nếu có thể.[41]

Trên việc vận động cơ bản nước từ cơ thể để tấn công hay phòng thủ, người dùng có thể làm rắn chắc nước thành một bản sao của chính mình để tham gia trận chiến.[42] Phân thân phải ở trong tầm của người dùng để có thể hoạt động, khiến đối thủ dễ dàng bỏ chạy. Ninja làng Sương mù có thể giam hãm đối thủ với Thủy Lao Chi Thuật–水牢の術|Suirō no Jutsu trong một quả cầu nước hầu như không thể thoát ra. Vì người dùng phải giữ bàn tay lên quả cầu để thuật này hiệu nghiệm, thủy phân thân có thể được dùng để tấn công kẻ thù khác trong khi người ban đầu duy trì thuật.[42]

Magen * Kyouten Chiten - Ảo ảnh ma quỉ * Sự thật và ảo ảnh đổi chỗ cho nhau

Người sử dụng: Uchiha Itachi. Magen * Kyouten Chiten là ảo thuật độc quyền người thuộc dòng họ Uchiha. Dựa vào đôi mắt Sharingan của mình, Uchiha có thể tạo ra ảo giác cho đối phương rằng họ đã bắt được hoặc sát thương được anh ta nhưng thực tế thì chính đối phương mới bị chính chiêu thức của mình làm cho bị thương. http://i1.accvietnam.vn/f/ichizine/s/18/Feb%202009/uchi%20%2883%29.jpg Ryuuka no Jutsu – Thuật rồng lửa

Người sử dụng: Uchiha Sasuke, Mitarashi Anko.Katon * Ryuuka no Jutsu là nhẫn thuật sử dụng nguyên tố Lửa. Sau khi trói được đối phương, người sử dụng sẽ dùng sợi dây trói làm dây dẫn và truyền 1 ngọn lửa cực mạnh về phía đối thủ, thiêu cháy họ. http://i1.accvietnam.vn/f/ichizine/s/18/Feb%202009/uchi%20%2890%29.jpg Sharingan Soufuusha Sannotachi

Người sử dụng: Uchiha Sasuke. Sharingan Soufuusha Sannotachi là nhẫn thuật được sáng chế bởi nhà Uchiha. Trong phạm vi khống chế của Sharingan, Uchiha sẽ tung ra 3 cái shuriken cỡ lớn với dây thép kèm theo để trói đối phương lại. Dưới sự điều khiển của Uchiha, shuriken sẽ bay vòng quanh, quấn liên tiếp những sợi dây thép mảnh nhưng chắc chắn lên người đối phương khiến cho họ không thể nhúc nhích gì được. http://i1.accvietnam.vn/f/ichizine/s/18/Feb%202009/uchi%20%2897%29.jpg Utakata

Người sử dụng: Uchiha Itachi. Utakata là ảo thuật được sử dụng bởi thành viên của Akatsuki, Uchiha Itachi. Để khởi động thuật này, Itachi chỉ cần sử dụng một ngón tay phải của anh ta mà thôi. Đối phương không cần nhìn vào mắt anh ta, chỉ cần anh ta chỉ ngón tay đó vào người đối phương thì đối phương sẽ trúng thuật. Và một khi trúng thuật đó, Itachi có thể điều khiển được những gì mà anh ta muốn đối phương nhìn thấy.

http://i1.accvietnam.vn/f/ichizine/s/18/Feb%202009/uchi%20%28104%29.jpg

Tên các thuật được dịch sát nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bạch Nhãn:Mắt trắng
  • Thiên Điểu:Một ngàn con chim
  • Nhu Quyền:Loại quyền uyển chuyển
  • Chú ấn:Dấu ấn ma quỷ
  • Khối Lỗi Chi Thuật:Kỹ thuật rối
  • Loa Toàn Hoàn:Quả cầu xoáy trôn ốc
  • Ảnh Phân Thân Chi Thuật:Kỹ thuật hình bóng phân thân
  • Tả Luân Nhãn:Mắt luân hồi sao chép
  • Vạn Hoa Đồng Tả Luân Nhãn:Mắt luân hồi sao chép kính vạn hoa
  • Khẩu Kỳ Chi Thuật:Kỹ thuật triệu tập

Rối[sửa | sửa mã nguồn]

Công dụng và cách điều khiển rối[sửa | sửa mã nguồn]

Rối được ninja sử dụng để phòng thủ và tấn công. Người điều khiển dùng chakra của mình để sử dụng con rối. Những bậc thầy như bà Chiyo có thể dùng 1 ngón tay để điều khiển 1 con rối.

Chế tạo rối[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ có mình Sasori biết chế tạo ra những con rối là lấy xác người đã khuất hoặc bỏ mạng dưới tay hắn, bỏ hết nội tạng, xử lý chống thối rữa...Hắn đã lấy xác của nhiều người để làm rối. Đối với Sasori nó giống như nghệ thuật sưu tập. Hai con rối hắn tạo ra đầu tiên chính là cha và mẹ của hắn nhưng chỉ dùng làm đồ chơi. Con rối của kankuro cũng do hắn làm ra nhưng hoàn toàn không lấy thân thể người chết. Con rối mà hắn thấy ưng ý nhất chính là kazekage đệ tam của làng cát. Cách này gọi là Nhân Mộc Hợp. Còn bình thường, rối được làm bằng gỗ, bên trong rỗng và chứa ám khí. Đặc biệt, Kuroari(Kiến đen) của Sasori còn có khả năng nhốt đối phương trong cơ thể để Karasu(Quạ) tự tách cơ thể ra tiêu diệt kẻ thù.

Thuật rối-Điều ngoại lệ[sửa | sửa mã nguồn]

I. Trong cuộc giao đấu với Sasori, bà Chiyo đã điều khiển yểm trợ Sakura để chiến đấu -> chứng tỏ rằng không nhất thiết người điều khiển rối chỉ có thể sai khiến thuật này trên hình nhân, vẫn có thể áp dụng trên cơ thể người sống. II. Sasori đã tự biến mình thành con rối có ý thức, được trang bị đầy đủ vũ khí trong một không gian cân đối.

Những người điều khiển rối[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm có:

1.Bà Chiyo(được gọi là huyền thoại vì kĩ thuật điều khiển rối bậc nhất có thể điều khiển 10 con rối với 10 ngón tay)

2.Sasori

3.Kankuro

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c “Phỏng vấn Masashi Kishimoto - Thông tin Naruto”. narutocentral.com. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2007. 
  2. ^ Shonen Jump #33 Volume 3, Ấn bản 9 tháng 9 năm 2005. Viz Media. tr. 8. 
  3. ^ Kishimoto, Masashi (2003). “Chương 10”. Naruto, Volume 1. Viz Media. tr. 16. ISBN 1-59116-178-9. 
  4. ^ a ă â b Kishimoto, Masashi (2006). “Chương 315”. Naruto, Volume 35. Shueisha. tr. 13. ISBN 4-08-874273-7. 
  5. ^ Naruto volume 41, manga chapter 375, page 11
  6. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chương 316”. Naruto, Volume 35. Shueisha. tr. 9. ISBN 4-08-874273-7. 
  7. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chương 333”. Naruto, Volume 36. Shueisha. tr. 12. ISBN 4-08-874397-4 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  8. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chương 316”. Naruto, Volume 35. Shueisha. tr. 5. ISBN 4-08-874273-7. 
  9. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chương 316”. Naruto, Volume 35. Shueisha. tr. 6. ISBN 4-08-874273-7. 
  10. ^ Kishimoto, Masashi (2002). “Thuật”. NARUTO―ナルト―[秘伝・臨の書]. Shueisha. tr. 164-165. ISBN 4-08873-288-X. 
  11. ^ a ă â b c Kishimoto, Masashi (2002). “Thuật”. NARUTO―ナルト―[秘伝・臨の書]. Shueisha. tr. 158-159. ISBN 4-08873-288-X. 
  12. ^ a ă â b Kishimoto, Masashi (2002). “Thuật”. NARUTO―ナルト―[秘伝・臨の書]. Shueisha. tr. 156-157. ISBN 4-08873-288-X. 
  13. ^ Kishimoto, Masashi (2005). “Chương 5”. Naruto, Volume 7. Viz Media. tr. 16. ISBN 1-59116-875-9. 
  14. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chapter 78”. Naruto, Volume 9. Viz Media. tr. 13. ISBN 1-4215-0239-9. 
  15. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chương 195”. Naruto, Volume 22. Viz Media. ISBN 1-4215-1858-9. 
  16. ^ a ă “Jutsu Top Ten 2”. IGN. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2007. 
  17. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chương 321”. Naruto, Volume 36. Shueishia. tr. 9–10. ISBN 4-08-874288-5. 
  18. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chương 240”. Naruto, Volume 27. Shueishia. tr. 14. ISBN 1-4215-0240-2. 
  19. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chương 128”. Naruto, Volume 15. Viz Media. tr. 10. ISBN 1-4215-1089-8. 
  20. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chương 114”. Naruto, Volume 13. Viz Media. tr. 3. ISBN 1-4215-1087-1. 
  21. ^ a ă Kishimoto, Masashi (2002). “Thuật”. NARUTO―ナルト―[秘伝・臨の書]. Shueisha. tr. 216-217. ISBN 4-08873-288-X. 
  22. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chương 151”. Naruto, Volume 18. Shueisha. ISBN 1-4215-1653-5. 
  23. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chương 330”. Naruto, Volume 37. Shueisha. ISBN 4-08-874338-7 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  24. ^ “Maile Flanagan”. Leaf Ninja. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2007. 
  25. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chương 78”. Naruto, Volume 9. Viz Media. ISBN 1-4215-0239-9. 
  26. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chương 112”. Naruto, Volume 13. Viz Media. ISBN 1-4215-1087-1. 
  27. ^ Kishimoto, Masashi (2004). “Chương 27”. Naruto, Volume 3. Viz Media. ISBN 1-59116-187-8. 
  28. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chương 230”. Naruto, Volume 26. Viz Media. ISBN 1-4215-1862-7. 
  29. ^ Kishimoto, Masashi (2005). “Chương 63”. Naruto, Volume 7. Viz Media. ISBN 1-59116-875-9. 
  30. ^ Kishimoto, Masashi (2004). “Chương 26”. Naruto, Volume 3. Viz Media. ISBN 1-59116-187-8. 
  31. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chương 243”. Naruto, Volume 27. Viz Media. ISBN 1-4215-1863-5. 
  32. ^ Manga Naruto, chương 385, trang 5
  33. ^ Manga Naruto, chương 386, trang 13
  34. ^ Manga Naruto, chương 386, trang 7
  35. ^ Manga Naruto, chương 386, trang 8-9
  36. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chương 225”. Naruto, Volume 25. Viz Media. ISBN 1-4215-1861-9. 
  37. ^ Kishimoto, Masashi (2002). “Thuật”. NARUTO―ナルト―[秘伝・臨の書]. Shueisha. tr. 182. ISBN 4-08873-288-X. 
  38. ^ Kishimoto, Masashi (2006). “Chương 295”. Naruto, Volume 33. Shueishia. tr. 6–9. ISBN 4-08-874108-0. 
  39. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chương 204”. Naruto, Volume 23. Viz Media. tr. 8–9. ISBN 1-4215-1859-7. 
  40. ^ Kishimoto, Masashi (2005). NARUTO―ナルト―[秘伝・闘の書]. Shueisha. tr. 213. ISBN 4-08873-734-2. 
  41. ^ Kishimoto, Masashi (2007). “Chương 142”. Naruto, Volume 16. Viz Media. ISBN 1-4215-1090-1. 
  42. ^ a ă Kishimoto, Masashi (2003). “Chương 13”. Naruto, Volume 2. Viz Media. ISBN 1-59116-178-9.