USS Macon (CA-132)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Macon
Tàu tuần dương USS Macon
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Macon
Đặt tên theo: Macon, Georgia
Hãng đóng tàu: New York Shipbuilding Corp., Camden, New Jersey
Đặt lườn: 14 tháng 6 năm 1943
Hạ thủy: 15 tháng 10 năm 1944
Đỡ đầu bởi: Bà Charles F. Bowden
Nhập biên chế: 26 tháng 8 năm 1945
Xuất biên chế: 10 tháng 3 năm 1961
Xóa đăng bạ: 1 tháng 11 năm 1969
Số phận: Bán để tháo dỡ 5 tháng 7 năm 1973
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Baltimore
Trọng tải choán nước: 14.500 tấn (tiêu chuẩn)
17.000 tấn (đầy tải)
Độ dài: 205,3 m (673 ft 7 in)
Sườn ngang: 21,6 m (70 ft 10 in)
Độ cao: 34,4 m (112 ft 10 in) (cột ăn-ten)
Mớn nước: 7,3 m (23 ft 11 in)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số
4 × nồi hơi, áp lực 4.240 kPa (615 psi)
4 × trục
công suất 120.000 mã lực (89,5 MW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h)
Tầm xa: 18.500 km (10.000 hải lý) ở tốc độ 27,8 km/h (15 knot)
Tầm hoạt động: 2.250 tấn dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.146 (61 sĩ quan, 1085 thủy thủ)
Vũ trang: 9 × hải pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber (3×3)
12 × hải pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber đa dụng (6×2)
48 × pháo phòng không Bofors 40 mm
24 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp chính: 152 mm (6 inch)
sàn tàu: 76 mm (3 inch)
tháp pháo: 76–152 mm (3-6 inch)
tháp chỉ huy: 203 mm (8 inch)
Máy bay mang theo: 4 × máy bay Vought OS2U Kingfisher/Curtiss SC-1 Seahawk
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Macon (CA-132) là một tàu tuần dương hạng nặng lớp Baltimore được Hải quân Hoa Kỳ đưa ra hoạt động ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó phục vụ trong giai đoạn chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Lạnh trước khi ngừng hoạt động năm 1961 và bị bán để tháo dỡ năm 1973.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Là tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt tên theo thành phố Macon tại tiểu bang Georgia, Macon được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding CorporationCamden, New Jersey vào ngày 14 tháng 6 năm 1943. Nó được hạ thủy vào ngày 15 tháng 10 năm 1944, được đỡ đầu bởi Bà Charles F. Bowden, phu nhân Thị trưởng thành phố Macon, và được đưa ra hoạt động vào ngày 26 tháng 8 năm 1945 tại Philadelphia dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Edward Everett Pare.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

1946 - 1950[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm sở đầu tiên của Macon là cùng với Đệ Bát hạm đội, nơi nó tham gia không lâu sau khi hoàn tất chuyến đi chạy thử máy. Nó rời Norfolk vào ngày 19 tháng 4 năm 1946 để tiến hành các cuộccơ động cùng hạm đội tại vùng biển Caribbe, và quay trở về New York vào ngày 7 tháng 5. Đến ngày 4 tháng 6, Macon đi đến Căn cứ Hải quân Norfolk làm mhiệm vụ tàu thử nghiệm thiết bị mới.

Trong bốn năm tiếp theo, chiếc tàu tuần dương thỉnh thoảng được bổ sung những thiết bị mới đang được phát triển tại Xưởng hải quân Philadelphia, và tiến hành thử nghiệm những thiết bị này trong khi phục vụ như một tàu huấn luyện tác xạ phòng không, cũng như huấn luyện quân nhân hải quân dự bị ngoài khơi bờ biển Đại Tây Dươngvịnh Mexico. Nó cũng thực hiện một chuyến đi huấn luyện học viên mới đến Châu Âu vào năm 1948. Vai trò này được tiếp tục cho đến ngày 12 tháng 4 năm 1950 khi nó được cho ngừng hoạt động và đưa về lực lượng dự bị tại Philadelphia.

1950 - 1961[sửa | sửa mã nguồn]

Macon tại Địa Trung Hải, 1953

Giai đoạn nghỉ ngơi của Macon không kéo dài, khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ vào tháng 6 năm 1950. Nó tái hoạt động trở lại tại Philadelphia vào ngày 16 tháng 10 năm 1950 dưới quyền chỉ huy của Đại tá Hải quân Victor Dismukes Long, và sau khi hoàn tất đợt huấn luyện ôn tập, trở thành soái hạm của Hải đội Tuần dương 6 tại Đại Tây Dương.

Cho đến cuối năm 1959, Macon đã thực hiện sáu chuyến đi huấn luyện học viên mới vào mùa Hè, và đã trải qua mùa Thu và mùa Đông hầu như mỗi năm cùng Đệ Lục hạm đội. Nó tuần tra tại khu vực Đông Địa Trung Hải trong cuộc Khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956; tham gia cuộc Duyệt binh Hải quân Quốc tế vào ngày 12 tháng 6 năm 1957 kỷ niệm 350 năm thành lập Jamestown, Virginia; và tham gia cuộc tập trận "Strikeback" của khối NATO tiến hành tại Bắc Hảibiển Bắc Cực vào tháng 9 năm 1957.

Ngoài các nhiệm vụ trên, Macon tiếp tục tiến hành thử nghiệm những thiết bị mới đang được phát triển trong suốt giai đoạn này. Được bổ sung thiết bị tên lửa trong giai đoạn tháng 1-tháng 3 năm 1956, nó đã bắn tên lửa Regulus lần đầu tiên từ một tàu tuần dương Hạm đội Đại Tây Dương vào ngày 8 tháng 5 trong khi đang thả neo ngoài khơi bờ biển North Carolina, rồi tiếp tục các hoạt động thử nghiệm tên lửa trong khi hoàn tất lượt phục vụ cùng Hạm đội Đại Tây Dương.

Đang khi di chuyển từ Cartagena đến Marseille trong đêm 19-20 tháng 1 năm 1959, Macon đã chuyển hướng khỏi lộ trình vội vã đi đến để trợ giúp chiếc tàu buôn Ý Maria Amata bị hỏa hoạn. Thủy thủ của Macon đã trợ giúp chiến đấu chống lửa, nhưng chiếc tàu hàng sau đó không còn có thể kiểm soát. Macon đã đưa thủy thủ đoàn của chiếc tàu buôn đến Valencia, Tây Ban Nha.

Sau đó, Macon đưa Dàn nhạc Hải quân Hoa Kỳ rời Norfolk cho một chuyến viếng thăm hữu nghị đến các cảng Nam Mỹ. Trong chuyến đi này, sáu thành viên của ban nhạc đã tử nạn trong một vụ rơi máy bay trên đường đi biểu diễn tại một buổi tiệc nhà nước của Tổng thống Brasil Juscelino Kubitschek de Oliveira. Cùng với sự tham gia của lực lượng Hải quân Argentine, thủy thủ đoàn của Macon đã cử hành nghi thức tưởng niệm tại cảng Buenos Aires vào ngày 28 tháng 2. Hoàn tất chuyến đi tại Rio de Janeiro vào ngày 10 tháng 3, Macon quay trở về Boston tiếp tục các hoạt động thường lệ cùng với Hạm đội Đại Tây Dương.

Macon được cho ngừng hoạt động và đưa về lực lượng dứ bị tại Philadelphia vào ngày 10 tháng 3 năm 1961. Nó được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 11 năm 1969, rồi được bán cho hãng Union Minerals and Alloys Corporation tại New York vào ngày 5 tháng 7 năm 1973, và được tháo dỡ tại Port Newark, New Jersey.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • [www.navsource.org/archives/04/132/04132.html Bộ sưu tập hình ảnh] của USS Macon tại NavSource Naval History