USS Wichita (CA-45)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Wichita CA-45.jpg
Tàu tuần dương hạng nặng USS Wichita (CA-45)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Đặt tên theo: Wichita, Kansas
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Philadelphia
Đặt lườn: 28 tháng 10 năm 1935
Hạ thủy: 16 tháng 11 năm 1937
Đỡ đầu bởi: William F. Weigester
Hoạt động: 16 tháng 2 năm 1939
Ngừng hoạt động: 3 tháng 2 năm 1947
Xóa đăng bạ: 1 tháng 3 năm 1959
Danh hiệu và
phong tặng:
13 × Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị tháo dỡ 14 tháng 8 năm 1959
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Wichita
Trọng tải choán nước: 12.100 tấn (tiêu chuẩn)
13.015 tấn (đầy tải)
Độ dài: 185,4 m (608 ft 4 in) (mực nước)
Sườn ngang: 18,8 m (61 ft 9 in) (mực nước)
Mớn nước: 6,0 m (19 ft 10 in) (tiêu chuẩn)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số
6 × nồi hơi ống nước, áp lực 3.200 kPa (464 psi)
4 × trục
công suất 100.000 mã lực (74,6 MW)
Tốc độ: 60 km/h (32,5 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
863:
75 sĩ quan
788 thủy thủ
Vũ trang: 9 × hải pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber (3×3)
[1] 8 × hải pháo 127 mm (5 inch)/38 caliber (4×2)
8 × súng máy Browning M2 0,50 caliber (12,7 mm)
24 × pháo phòng không Bofors 40 mm (4×2, 4×4)
20 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp:

đai giáp chính: 102-152 mm (4-6 inch)
sàn tàu: 57 mm (2,25 inch)
tháp pháo: 38-406 mm (1,5-8 inch)
bệ tháp pháo: 178 mm (7 inch)

tháp chỉ huy: 57-152 mm (2,25-6 inch)
Máy bay mang theo: 4 × máy bay trinh sát
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Wichita (CA-45) là một tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Hoa Kỳ, là chiếc duy nhất trong lớp của nó và tên được đặt theo thành phố Wichita tại tiểu bang Kansas. Wichita đã tham gia phục vụ trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ hai, thoạt tiên là hộ tống các đoàn tàu vận tải đi đến Murmansk ở phía Bắc Liên Xô và hỗ trợ cho cuộc đổ bộ trong Chiếc dịch Torch tại Mặt trận Châu Âu vào năm 1942, và sau đó là tại Mặt trận Thái Bình Dương trong những năm 1943- 1945. Wichita đã phục vụ trong thành phần lực lượng chiếm đóng Nhật Bản sau chiến tranh trước khi được cho ngừng hoạt động vào năm 1947 và bị tháo dỡ vào năm 1959.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Wichita được đặt lườn vào ngày 28 tháng 10 năm 1935 tại Xưởng hải quân Philadelphia; được hạ thủy vào ngày 16 tháng 11 năm 1937; được đỡ đầu bởi Bà William F. Weigester, con gái ngài W. A. Ayres, Chủ tịch Ủy ban Thương mại Liên bang; và được đưa ra hoạt động vào ngày 16 tháng 2 năm 1939 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Thaddeus A. Thomson.

Thiết kế của con tàu là sự chuyển đổi từ những tàu tuần dương trước chiến tranh sang những chiếc được chế tạo trong Thế Chiến II. Nó được hình thành như một chiếc khác thuộc lớp tàu tuần dương hạng nhẹ Brooklyn, và trong thiết kế nó trông rất giống chúng, nhưng với kiểu tháp pháo mới 203 mm (8 inch) cùng tám khẩu pháo hạng hai 127 mm (5 inch)/38 caliber đa dụng, bốn khẩu trên các tháp pháo nòng đơn và bốn khẩu trên các bệ không che chắn. Hai tháp pháo của Wichita được bố trí ở cấu hình bắn thượng tầng phía trước và một tháp pháo thứ ba ở phía sau. Hai trong số tháp pháo bọc thép 127 mm (5 inch) được đặt trên tháp pháo chính phía trước và phía sau, và hai chiếc ở hai bên cầu tàu. Bốn bệ pháo mở 127 mm (5 inch) được bố trí phía sau giữa tàu. Sàn chứa máy bay và máy phóng của Wichita được đặt ở phía đuôi tàu, giống như mọi lớp tàu tuần dương sau này.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc trang bị, Wichita lên đường về phía Nam hướng đến vịnh Mexico, đến Houston, Texas vào ngày 20 tháng 4 tham gia các hoạt động lễ hội kỷ niệm trận San Jacinto. Mười ngày sau, nó nhận một dãi bạc phục vụ từ các đại biểu của thành phố Wichita, Kansas mà nó mang tên. Sau khi rời Houston vào ngày 1 tháng 5, Wichita tiến hành chuyến đi chạy thử máy, viếng thăm quàn đảo Virgin, CubaBahamas trước khi quay trở về xưởng đóng tàu để sửa chữa sau thử máy.

Mở màn Chiến tranh Thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Wichita vẫn còn trong giai đoạn chuẩn bị khi Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra tại Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939. Vào ngày 25 tháng 9, nó trình diện cùng Tổng tư lệnh Hạm đội Hoa Kỳ và được bố trí về Hải đội Tuần dương 7 thuộc Hạm đội Đại Tây Dương. Nó rời Philadelphia hướng đến Virginia Capes, đi đến Hampton Roads hai ngày sau đó. Wichita rời Hampton Roads vào ngày 4 tháng 10 để thay phiên cho tàu tuần dương Vincennes trong nhiệm vụ Tuần tra Trung lập. Nó ở lại ngoài biển cho đến ngày 9 tháng 10, khi nó quay trở về Hampton Roads. Nó vào Xưởng hải quân Norfolk vào ngày 12 tháng 10 và trải qua đợt sửa chữa tại đây cho đến ngày 1 tháng 12.

Ba ngày sau, Wichita lên đường hướng đến Cuba, đi đến vịnh Guantanamo vào ngày 8 tháng 12. Sau khi đến nơi, chỉ huy của nó, Đại tá Thomson, tiếp nhận quyền chỉ huy Lực lượng Tuần tra Caribbe mới được thành lập, bao gồm các tàu tuần dương WichitaVincennes, các tàu khu trục Borie, Broome, Lawrence, KingTruxtun và các hải đội tuần tra hải quân VP-33 và VP-51. Mọi đơn vị đều được đặt căn cứ tại vịnh Guantanamo hoặc tại San Juan, Puerto Rico.

Trong những tuần lễ tiếp theo sau, Wichita và các tàu tháp tùng của Lực lượng Tuần tra Caribbean tiến hành tập trận ngoài khơi vịnh Guantanamo. Bốn ngày trước lễ Giáng Sinh, chiếc tàu tuần dương hạng nặng rời vùng biển Cuba hướng đến Puerto Rico, và đi đến San Juan hai ngày sau đó. Sau đó, nó ghé thăm St. Thomas thuộc quần đảo Virgin một thời gian ngắn vào ngày 2829 tháng 12 năm 1939 trước khi quay trở về San Juan và ở lại đây cho đến ngày 2 tháng 1 năm 1940.

Quay trở lại vịnh Guantanamo vào ngày 3 tháng 1, Wichita thực hành tại chỗ từ ngày 8 đến ngày 24 tháng 1, rồi nó rời vùng biển Cuba như là soái hạm của Phân đội Antilles vừa mới được tành lập, cũng bao gồm Vincennes và Hải đội Khu trục 10. Hai ngày sau đó, lực lượng được cho tách ra, khi Wichita cùng Hải đội Khu trục 82 viếng thăm Willemstad, Curaçao, West Indies thuộc Hà Lan từ ngày 26 đến ngày 30 tháng 1 trước khi lên được gặp gỡ Vincennes và nhóm tàu khu trục của nó vào ngày 31 tháng 1, trên đường quay trở lại vùng biển Puerto Rico.

Wichita tiến hành các hoạt động thực tập tại khu vực Guantanamo-Culebra, Puerto Rico cho đến cuối tháng 2, khi nó lên đường đi Hampton Roads. Nó đến Norfolk vào ngày 4 tháng 3 và trải qua năm ngày tại đây trước khi di chuyển về phía Bắc đến Philadelphia, nơi nó ở lại trong hai tuần. Sau khi quay trở lại Norfolk vào cuối tháng 3, Wichita hoạt động thực tập ngoài khơi Hampton Roads cho đến hết mùa Xuân.

Wichita sơn màu xám nhạt trước chiến tranh, vào ngày 1 tháng 5 năm 1940.

Tuy nhiên, vào tháng 6, chiếc tàu tuần dương hạng nặng được giao nhiệm vụ "biểu dương lực lượng" tại vùng biển Nam Mỹ để đối phó với sự tuyên truyền của Đức Quốc Xã tại một số nước "láng giềng tốt" phía Nam. Ngay từ giữa tháng 5 năm 1940, khi Đức tiến hành cuộc chiến tranh chớp nhoáng (blitzkrieg) hủy diệt vào Hà LanPháp, Edwin C. Wilson, Công sứ Hoa Kỳ tại Uruguay, đã báo cáo từ Montevideo về sự bùng phát của việc tuyên truyền chủ nghĩa Quốc Xã tại đây. Bộ Ngoại giao Mỹ và bản thân Tổng thống cũng chia sẽ mối lo ngại của Wilson về những nổ lực nhằm bành trướng ảnh hưởng lên vùng Tây bán cầu.

Quincy là con tàu đầu tiên được cho gởi đến Montevideo, thủ đô của Uruguay, đến cảng này vào ngày 20 tháng 6 trong một sự đón tiếp nhiệt tình. Mười ngày sau, Wichita, cùng với Chuẩn Đô đốc A. C. Pickens tư lệnh Hải đội Tuần dương 7 trên tàu, gia nhập cùng Quincy tại đây sau khi ghé qua Rio de Janeiro trên đường đi.

Ảnh hưởng của những chiếc tàu tuần dương hạng nặng, "nhắc nhở về sức mạnh và tầm hoạt động của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ", được tiếp tục khi WichitaQuincy lên đường vào ngày 3 tháng 7. Chúng ghé thăm Rio Grande do Sul; Santos; Rio de Janeiro; Salvador, Bahia; và Pernambuco, Brasil, trước khi quay trở lại Montevideo vào ngày 23 tháng 8. Các con tàu sau đó "biểu dương lực lượng" tại Buenos Aires, Argentina, và một lần nữa tại Rio de Janeiro trước khi quay trở về Hampton Roads vào ngày 22 tháng 9.

Wichita ở lại Norfolk một tuần trước khi tiếp tục đi đến New York, đến nơi vào ngày 30 tháng 9. Trong ba tháng tiếp theo, chiếc tàu tuần dương phục vụ như là tàu huấn luyện cho học viên mới của Chương trình Dự bị V-7, và tiến hành các cuộc tập luyện tác xạ, chủ yếu tại Khu vực Luyện tập phía Nam ngoài khơi Virginia.

1941[sửa | sửa mã nguồn]

Wichita rời Hampton Roads vào ngày 7 tháng 1 năm 1941 hướng đến vùng biển Cuba, đến Guantanamo bốn ngày sau đó. Trong hai tháng rưỡi tiếp theo, Wichita tham gia các cuộc cơ động hạm đội tại khu vực Caribbe và các cuộc diễn tập đổ bộ tại Puerto Rico. Trong thời gian đó, nó ghé qua Portland Bight, Jamaica; Culebra; Guayanilla, Fajardo RoadsMayagüez, Puerto Rico trước khi quay về Xưởng hải quân New York vào ngày 23 tháng 3.

Wichita khởi hành đi Bermuda vào ngày 6 tháng 4 và đến nơi hai ngày sau đó. Cùng với tàu tuần dương Tuscaloosa, Wichita hoạt động tại khu vực Bắc Đại Tây Dương, đi đến phạm vi cách Ireland 1.500 km (800 dặm), sau đó nó quay về Xưởng hải quân New York vào ngày 17 tháng 5 và vào ụ tàu ngày 21 tháng 6.

Hoàn tất việc sửa chữa vào ngày 2 tháng 7, Wichita chuyển đến Newport, Rhode Island, nơi nó lên đường vào ngày 27 tháng 7 hướng đến Iceland trong thành phần Lực lượng Đặc nhiệm 16 tham gia Chiến dịch "Indigo II", cuộc chiếm đóng hòn đảo chiến lược này. Nó đến Reykjavík, thủ đô Iceland, vào ngày 6 tháng 8 nhưng lại quay trở về Newport vào ngày 20 tháng 8. Sau đó nó chuyển đến vịnh Casco, Maine, từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 8 trước khi lên đường đi Newfoundland, ở lại vịnh Placentia trong khoảng một tháng. Tuy nhiên cùng lúc đó, các nhà chiến lược Hoa Kỳ, do lo sợ phản ứng của Đức đối với vai trò ngày càng gia tăng của Mỹ trong trận chiến Đại Tây Dương, đã cho phép đưa một lực lượng đặc nhiệm đến Iceland, đặt căn cứ tại đây và tuần tra eo biển Đan Mạch. Nằm trong thành phần được điều động này, Wichita lên đường vào ngày 23 tháng 9 hướng đến vùng biển Iceland cùng với tàu sân bay Wasp, thiết giáp hạm Mississippi, tàu sửa chữa Vulcan cùng bốn tàu khu trục, và đã đến Reykjavík vào ngày 28 tháng 9.

Hai ngày trước khi Wichita đến nơi, tàu chiến của Hạm đội Đại Tây Dương nhận được mệnh lệnh bảo vệ mọi con tàu thương mại trong vùng biển bảo vệ của Hoa Kỳ. Hải quân được phép tuần tra, bảo vệ, hộ tống, và báo cáo hoặc tiêu diệt mọi lực lượng hải quân Đức hay Ý can dự. Hành động này được đưa ra chỉ một tuần sau khi đoàn tàu vận tải đầu tiên được Hải quân Mỹ hộ tống hướng sang phía Đông, và chỉ hai tuần sau mệnh lệnh của Tổng thống Franklin D. Roosevelt: "bắn nếu thấy", cho phép các đơn vị Hải quân Mỹ tấn công mọi con tàu đe dọa tàu bè Mỹ hay tàu bè được Mỹ hộ tống.

Trong thành phần của Đội đặc nhiệm 7.5 (tên lóng "White Patrol", tuần tra trắng), Wichita tiếp tục các hoạt động tuần tra tại vùng biển Iceland cho đến cuối năm 1941; và nó đang thả neo tại Hvalfjörður, Iceland, vào lúc mà Đế quốc Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, thúc đẩy Hoa Kỳ chính thức tham gia Chiến tranh Thế giới thứ hai.

1942[sửa | sửa mã nguồn]

Wichita trải qua một cơn bão tại Iceland.

Wichita lên đường vào ngày 5 tháng 1 năm 1942 tiến hành một đợt huấn luyện ôn tập và tuần tra càn quét tại eo biển Đan Mạch trước khi quay trở về Hvalfjörður vào ngày 10 tháng 1. Năm ngày sau, một cơn cuồng phong lớn với sức gió lên đến 180 km/h (100 knot) ập đến Iceland. Wichita lẫn tránh được cơn bão cho đến khi những chiếc USS AlbemarleSS West Nohno bị gió thổi đứt dây neo. Wichita cơ động né tránh được Albemarle, nhưng West Nohno bị vướng vào dây neo của chiếc tàu tuần dương hạng nặng và va chạm mạn của nó vào mũi chiếc Wichita. Sau đó Wichita va chạm với một tàu đánh cá Anh trước khi bị mắc cạn vào lúc 16 giờ 41 phút ở tư thế cân bằng. Chiếc tàu chiến trải qua đêm trong gió giật và mưa tuyết và tầm nhìn rất giới hạn.

Ngày hôm sau, Wichita kiểm soát được tình trạng của mình. Việc khảo sát cho thấy nó bị hư hại nhẹ do các cú va chạm, chịu đựng một số điểm tràn nước, và những hư hỏng có thể sửa chữa được cho lườn và đuôi tàu do bị mắc cạn. Sau khi được sửa chữa tạm thời, Wichita đi đến Xưởng hải quân New York vào ngày 9 tháng 2. Sau khi được sửa chữa và cải biến trong ụ tàu, Wichita khởi hành vào ngày 26 tháng 2, ghé tạt qua Newport, Rhode Island, trước khi tiếp tục đi đến Boston vào ngày hôm sau. Chuyển sang vịnh Casco, Maine, chiếc tàu tuần dương thực hành tại vùng biển này cho đến ngày 11 tháng 3, khi nó lên đường đi Boston để tiếp đạn, rồi quay trở lại vịnh Casco không lâu sau đó.

Sau đó Wichita được điều về một lực lượng đặc nhiệm được hình thành chung quanh Wasp và thiết giáp hạm Washington, còn bao gồm Tuscaloosa và tám tàu khu trục dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Đô đốc John W. Wilcox, Jr., vốn đặt cờ hiệu của mình trên chiếc Washington. Wichita khởi hành vào ngày 26 tháng 3, và vào ngày hôm sau, khi đi ngang qua vùng biển động, Đô đốc Wilcox bị cuốn khỏi soái hạm của mình. Sau các nỗ lực tìm kiếm rộng rãi, xác của vị Đô đốc được tìm thấy nhưng không thể vớt lên được. Nhiệm vụ chỉ huy lực lượng được chuyển cho Chuẩn Đô đốc Robert C. Giffen, đặt cờ hiệu trên chiếc Wichita.

Vào ngày 3 tháng 4, lực lượng đặc nhiệm của Wichita gặp gỡ HMS Edinburgh, HMS GambiaHMS Frobisher. Sau đó Edinburgh đã dẫn đường cho tàu tàu Mỹ đi vào Scapa Flow, căn cứ hoạt động mới, và đến nơi vào ngày 4 tháng 4. Trong những tuần lễ tiếp theo, Wichita thực hành ngoài khơi Scapa Flow cùng các đơn vị khác của Hạm đội Anh.

Hoàn tất việc huấn luyện và truyền thụ cùng Hải quân Hoàng gia Anh, chiếc tàu tuần dương ra khơi vào ngày 28 tháng 4 hộ tống cho các đoàn tàu vận tải PQ-15QP-11 đi đến và quay về từ cảng quan trọng Murmansk của Chương trình Cho thuê-Cho mượn hỗ trợ cho Liên Xô trong chiến tranh. Các hoạt động của Đức xuất hiện không lâu sau đó dưới dạng báo cáo của máy bay và tàu ngầm U-boat theo dõi rình mò. Hơn nữa, lại có vấn đề bên phía Đồng Minh: vào ngày 1 tháng 5 năm 1942, thiết giáp hạm HMS King George V húc phải và làm chìm tàu khu trục HMS Punjabi. King George V phải quay về cảng để sửa chữa, và vị trí của nó được thay thế bởi HMS Duke of York. Sau khi hoàn tất việc hộ tống QP-11, lực lượng rút lui về hướng Seyðisfjörður, Iceland. Chiếc tàu chiến Mỹ được cho tách ra để quay về Hvalfjörður, và đến nơi và ngày 6 tháng 5.

WichitaWasp trong cảng vào năm 1942.

Sau gần một tuần trong cảng, Wichita lên đường vào ngày 12 tháng 5 thay phiên cho Tuscaloosa tuần tra trong eo biển Đan Mạch, giữa Iceland và Greenland. Một tuần sau, nó quay về Hvalfjörður rồi lại ra khơi trong thành phần lực lượng hộ tống hỗn hợp Anh-Mỹ bảo vệ cho đoàn tàu vận tải PQ-16 trong chặng đi đến Murmansk và đoàn QP-12 quay trở về, và về đến Scapa Flow vào ngày 29 tháng 5. Trong khi ở trong cảng, vào ngày 7 tháng 6, Vua George VI đã thị sát Wichita cùng các tàu chiến khác của lực lượng đặc nhiệm, kể cả Washington.

Lên đường đi Hvalfjörður vào ngày 12 tháng 6 và đến nơi vào ngày 14 tháng 6, Wichita thay phiên cho HMS Cumberland trong hoạt động "White Patrol" tại eo biển Đan Mạch không lâu sau đó. Đang khi tuần tra vào ngày 17 tháng 6, Wichita phát hiện một chiếc Focke-Wulf Fw 200 "Condor", kiểu máy bay trinh sát hàng hải và ném bom bốn động cơ, và đã nổ súng vào nó. Ba ngày sau, chiếc tàu tuần dương hạng nặng lại bắn vào một chiếc "Condor" thứ hai mà vẫn không có kết quả.

Hoạt động của đối phương gần các tuyến đường vận tải đến Murmansk và tại khu vực eo biển Đan Mạch không hề lắng dịu trong những ngày tiếp theo. Vào ngày 21 tháng 6, Wichita nhìn thấy một kính tiềm vọng của tàu ngầm; nó đã thực hiện lẫn tránh và không có hoạt động tấn công nào xảy ra sau đó, và chiếc tàu tuần dương tiếp tục cuộc tuần tra. Ngày kế tiếp, nó phát hiện một chiếc "Condor" thứ ba nhưng không nổ súng. Sau đó Wichita đi đến Hvalfjörður rồi từ đây đi đến Seidisfjordur vào cuối tháng 6. Rời cảng này vào ngày 30 tháng 6 để hộ tống đoàn tàu vận tải PQ-17, chiếc tàu chiến nằm trong thành phần "Lực lượng Tuần dương Bảo vệ", bao gồm Wichita cùng ba tàu tuần dương hạng nặng khác và ba tàu khu trục. Các lực lượng hỗ trợ khác bao gồm hai thiết giáp hạm, một tàu sân bay, một tàu tuần dương hạng nặng và một tàu tuần dương hạng nhẹ cùng chín tàu khu trục.

Bản thân đoàn tàu vận tải là một lực lượng lớn, 36 tàu buôn chất đầy đủ loại hàng hóa chiến tranh khác nhau được gửi cho Liên Xô theo Chương trình Cho thuê-Cho mượn, và một "tàu CAM", tàu buôn được trang bị một máy phóng cùng một máy bay Hawker Hurricane để phòng thủ tại chỗ. Không may cho đoàn tàu vận tải, một thử thách đang chờ đợi phía trước các con tàu Đồng Minh. Đến ngày 1 tháng 7, rõ ràng là phía Đức đã phát hiện hoạt động này do có sự tăng cường hoạt động của tàu ngầm U-boat về phía Đông. Một bức điện thu được từ phía Đức cho thấy đoàn tàu vận tải đã bị phát hiện. Thủy thủ trên Wichita ghi nhận thời tiết trở nên rất xấu: tầm nhìn rất kém; trần mây không bao giờ cao hơn 200 ft (61 m) và đôi khi che khuất hoàn toàn.

Lúc 23 giờ 40 phút ngày 2 tháng 7, máy bay trinh sát "Condor" điện báo cáo vị trí của đoàn tàu vận tải khi họ đang đi qua vùng biển sóng gió hướng sang Nga. Ngày hôm sau, một bức điện thu được cho thấy Đức đang tập trung một lực lượng tàu nổi mạnh được xây dựng chung quanh thiết giáp hạm Tirpitz để đánh chặn đoàn tàu vận tải. Đầu buổi chiều, việc trinh sát hình ảnh cảng Trondheim thuộc Na Uy xác nhận rằng Tirpitz, tàu tuần dương Admiral Hipper và bốn tàu khu trục đã ra khơi.

Tàu ngầm U-boat và máy bay "Condor" liên tục dõi theo những con tàu của PQ-17. Vào ngày 4 tháng 7, Wichita phóng lên hai chiếc thủy phi cơ SOC Seagull trang bị mìn sâu để thăm dò vùng rìa phía ngoài của đoàn tàu vận tải và tấn công các tàu U-boat dõi theo. Những chiếc máy bay quay về lúc 16 giờ 45 phút, không tìm thấy tàu ngầm đối phương nhưng đã đụng độ với những máy bay do thám đối phương. Nỗi lo ngại về việc bị tấn công cuối cùng đã trở nên hiện thực vào cuối ngày hôm đó, khi 25 máy bay Heinkel He 111 trang bị ngư lôi ập đến từ mạn phải của đoàn tàu vận tải. Ba tàu hàng bị đánh trúng; chúng bị bỏ lại sau đó và bị chìm, trong đó một chiếc đã trúng phải ngư lôi từ đêm hôm trước. Tuy nhiên, tình hình vẫn không sáng sủa hơn.

Sự hiện diện của những hạm tàu hạng nặng Đức TirpitzAdmiral Hipper ngoài biển, cùng các tàu theo hộ tống, đã buộc đoàn tàu vận tải phải đổi hướng. Vào lúc 19 giờ 23 phút, đoàn tàu vận tải nhận được bức điện tai họa: "Do mối đe dọa từ các hạm tàu nổi đối phương, PQ-17 sẽ được phân tán và đi đến các cảng Nga." Mệnh lệnh này đã kết liễu số phận của đa số các tàu buôn. Đến 19 giờ 36 phút, Bộ Hải quân Anh đánh điện: "Phân tán đoàn tàu vận tải."

Cuộc tháo chạy hổn loạn đến Murmansk được thực hiện mà không có sự trợ giúp của lực lượng bảo vệ, vì ngày sau mệnh lệnh "phân tán" là một chỉ thị khác được gửi đến lực lượng tuần dương lúc 19 giờ 44 phút: "Rút lui về phía Tây với tốc độ cao". Tuân theo mệnh lệnh, Wichita và các tàu chiến khác đổi hướng, và đến 20 giờ 25 phút ngày 4 tháng 7, gia tăng tốc độ lên 25 kn (46 km/h). Ngày hôm sau, đang khi về phía Nam Spitsbergen, các con tàu bị một cặp thủy phi cơ FW-200 phát hiện và theo dõi. Cả Wichita lễn Tuscaloosa đã khai hỏa với các khẩu pháo phòng không, nhưng những chiếc "Condors" đã lẫn đi.

Wichita gia nhập cùng phần còn lại của Hạm đội vào ngày 6 tháng 7 rồi tiếp tục hướng đến Hvalfjörður, đến nơi hai ngày sau đó. Trong vòng một tuần, chiếc tàu tuần dương hạng nặng lại đảm trách vai trò soái hạm, lần này là cho Chuẩn Đô đốc Giffen Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm 99. Lên đường đi Scapa Flow vào ngày 19 tháng 7, nó đến nơi vào ngày 21 tháng 7, để rồi lại khởi hành ngay ngày hôm sau đi đến xưởng tàu Admiralty tại Rosyth, Scotland. Đến nơi vào ngày 23 tháng 7, Wichita vào ụ tàu để sửa chữa vào ngày 24 tháng 7 và ở lại đó cho đến ngày 9 tháng 8.

Tuy nhiên, việc sửa chữa sự rung động của một chân vịt tỏ ra không hiệu quả, khi Tùy viên Hải quân tại London đánh điện vào ngày 12 tháng 8 cho biết hiệu quả tác chiến của con tàu bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi đi với tốc độ vượt quá 20 kn (37 km/h). Vì vậy, hai ngày sau đó, Wichita nhận được lệnh lên đường, đi ngang qua Hvalfjörður để quay về Hoa Kỳ. Khi nó quay về nhà, chiếc tàu tuần dương được đánh giá "đã hoạt động một cách thông minh và hiệu quả" bởi Đô đốc John Tovey, Tổng tư lệnh Hạm đội Nhà, vốn đã viếng thăm con tàu trước khi khởi hành và phát biểu trước thủy thủ đoàn.

Sau một chặng dừng ngắn tại Hvalfjörður, Wichita đi đến New York vào ngày 22 tháng 8 và đi vào ụ tàu tại Xưởng hải quân New York cùng ngày hôm đó. Rời ụ tàu ngày 5 tháng 9, chiếc tàu tuần dương hạng nặng trải qua đợt chạy thử máy trong vòng một tuần trước khi di chuyển đến Hampton Roads. Nó tiến hành đợt thực hành tác xạ tại vịnh Chesapeake; ghé thăm Baltimore từ ngày 24 đến ngày 28 tháng 9; rồi đi đến khu vực thực hành Virginia Capes tiếp nối các các cuộc thực tập và huấn luyện.

Lên đường vào ngày 5 tháng 10 đi vịnh Casco, nó đến nơi vào ngày 6 tháng 10, chất đạn dược lên tàu tại Boston rồi quay trở lại vịnh Casco để thực hành, vốn kéo dài cho đến cuối tháng 10, khi chiếc tàu tuần dương được điều về Đội đặc nhiệm 34.1, dưới quyền chỉ huy của Chuẩn đô đốc H. Kent Hewitt đặt cờ hiệu của mình trên chiếc Augusta, vốn còn bao gồm thiết giáp hạm Massachusetts, tàu tuần dương Tuscaloosa, Hải đội Tuần dương 8 cùng các hải đội khu trục 8 và 11. Lên đường vào ngày 24 tháng 10, Wichita lên đường đi đến vùng biển Bắc Phi, bảo vệ cho con đường đi của đoàn tàu vận tải được tập trung để tiến hành Chiến dịch Torch.

Vào ngày 8 tháng 11 năm 1942, Wichita bước vào hoạt động trực chiến lúc 05 giờ 40 phút với nhiệm vụ sẵn sàng vô hiệu hóa các khẩu đội pháo phòng thủ duyên hải Pháp tại Point El Hank và Table d'Aukasha cũng như các tàu chiến Pháp trong cảng Casablanca. Do không biết rõ thái độ và phản ứng của phía Pháp đối với việc đổ bộ, Wichita và các tàu chiến khác được lệnh không nổ súng cho đến khi "bất khả kháng và gặp sự đối địch".

Tuy nhiên, người Pháp quyết định kháng cự, khiến đưa đến cuộc Hải chiến Casablanca. Được lệnh tấn công lúc 06 giờ 23 phút, Wichita tiến về phía bờ biển Bắc Phi, trong khi các thủy phi cơ trinh sát Seagull của nó được phóng lên để định vị điểm pháo rơi. Máy bay tiêm kích Pháp, có thể là kiểu Dewoitine D.520 hoặc P-36 Hawk do Mỹ chế tạo, đã tấn công những chiếc Seagull, một trong số chúng bị buộc phải hạ cánh khẩn cấp. Đội bay của nó được một trong các tàu hộ tống cho chiếc tàu tuần dương hạng nặng vớt lên.

Wichita đang đấu pháo với Jean Bart

Đến 07 giờ 04 phút, các khẩu pháo của thiết giáp hạm Pháp Jean Bart lên tiếng từ cảng Casablanca, cũng như những khẩu đội bố trí tại El Hank. Cho dù đang thả neo trong cảng và trong tình trạng chưa hoàn tất, Jean Bart cũng tung ra một hỏa lực mạnh mẻ từ dàn pháo chính. Massachusetts bắn trả lúc 07 giờ 05 phút, có Tuscaloosa tiếp nối không sau đó.

Các khẩu pháo 8 in (200 mm) của Wichita khai hoả lúc 07 giờ 06 phút, nhắm về phía El Hank. Đến 07 giờ 23 phút, khi các máy bay trinh sát thông báo rằng các khẩu pháo Pháp dường như đã im tiếng, chiếc tàu tuần dương hạng nặng chuyển dàn hỏa lực 8 inch của mình về hướng các tàu ngầm Pháp trong cảng Casablanca. Ngừng bắn lúc 07 giờ 40 phút, Wichita bắt đầu bắn phá các khẩu đội pháo Pháp tại Table d'Aukasha không lâu trước 08 giờ 00.

Sau khi tiếp tục nả pháo vào các tàu bè Pháp trong cảng Casablanca, Wichita được lệnh ngừng bắn lúc 08 giờ 35 phút. Tuy nhiên, đến 09 giờ 19, nó lại nổ súng — lần này nhắm vào các tàu khu trục Pháp trong cảng và vào tàu tuần dương Pháp Primauguet. Sau đó, lúc 11 giờ 28 phút, Wichita vào trong tầm bắn của một khẩu đội Pháp tại El Hank, các pháo thủ phe Vichy đã nhắm vào chiếc tàu tuần dương Mỹ. Một quả đạn pháo 194 mm (7,6 in) đã bắn trúng mạn trái con tàu, xuyên qua sàn tàu thứ hai gần cột ăn-ten chính, và phát nổ trong một khoang nghỉ của thủy thủ đoàn. Mảnh đạn đã làm bị thương 14 người, nhưng không ai bị thương nặng, và đám cháy xảy ra được nhanh chóng dập tắt bởi các đội kiểm soát hư hỏng của Wichita.

Các quả ngư lôi từ một tàu ngầm phe Pháp Vichy đã buộc Wichita phải cơ động để né tránh lúc 11 giờ 39 phút. Hai quả đã băng qua trước mũi tàu ở khoảng cách khoảng một chiều dài tàu, và một quả khác băng qua sâu dưới mũi tàu hay hơi chệch về phía trước. Sau khi ngừng bắn lúc 11 giờ 42 phút, Wichita nhận được mệnh lệnh một giờ sau đó tấn công các tàu Pháp đang tìm cách thoát ra theo lối ra vào cảng Casablanca. Được sự trợ giúp bởi tầm nhìn được cải thiện và việc trinh sát từ trên không, nó lại nả pháo vào Primauguet, làm bốc cháy một phần lớn con tàu đối phương. Lúc 15 giờ 05 phút, Wichita ngừng bắn; các khẩu pháo của nó im tiếng cho đến hết ngày hôm đó. Vào lúc chiều tối, nó di chuyển ra phía biển nhằm tránh các cuộc tấn công đêm của tàu ngầm; và trong những ngày tiếp theo sau, nó tuần tra ngoài khơi giữa Casablanca và Fedhala. Khi vai trò trong "Chiến dịch Torch" hoàn tất, nó được lệnh quay trở về Hoa Kỳ, và Wichita lên đường đi Hampton Roads vào ngày 12 tháng 11. Được lệnh chuyển hướng sang New York đang trên đường đi, nó đến nơi vào ngày 19 tháng 11 để sửa chữa.

1943[sửa | sửa mã nguồn]

Không lâu sau đó, Wichita lên đường đi sang Thái Bình Dương. Ngày 29 tháng 1 năm 1943, chiếc tàu tuần dương hạng nặng có hoạt động tác chiến đầu tiên tại chiến trường mới trong một cuộc tấn công đêm bằng ngư lôi của máy bay Nhật ngoài khơi đảo Rennell.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Wichita được tặng thưởng 13 Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Fahey 1941, trang 9

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]