USS Pasadena (CL-65)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Pasadena (Cl-65)-Tarn.jpg
Tàu tuần dương USS Pasadena (CL-65)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Pasadena
Đặt tên theo: Pasadena, California
Hãng đóng tàu: Xưởng tàu Fore River, Bethlehem Steel, Quincy, Massachusetts
Đặt lườn: 6 tháng 2 năm 1943
Hạ thủy: 28 tháng 12 năm 1943
Đỡ đầu bởi: Bà C.G. Wopschall
Nhập biên chế: 8 tháng 6 năm 1944
Xuất biên chế: 12 tháng 1 năm 1950
Xóa đăng bạ: 1 tháng 12 năm 1970
Danh hiệu và
phong tặng:
5 × Ngôi sao chiến đấu
Số phận: Bị tháo dỡ 1970
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Cleveland
Trọng tải choán nước: 11.800 tấn Anh (12.000 t) (tiêu chuẩn)
14.131 tấn Anh (14.358 t) (đầy tải)
Độ dài: 600 ft (180 m) (mực nước)
610 ft 1 in (185,95 m) (chung)
Sườn ngang: 66 ft 3 in (20,19 m)
Độ cao: 113 ft (34 m)
Mớn nước: 20 ft (6,1 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine GE hơi nước hộp số
4 × nồi hơi ống nước Babcock & Wilcox đốt dầu, áp lực 634 psi
4 × trục
công suất 100.000 hp (75.000 kW)
Tốc độ: 31,6 hải lý một giờ (58,5 km/h; 36,4 mph)
Tầm xa: 14.500 nmi (26.850 km; 16.690 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.319
Vũ trang:

12 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber trên tháp pháo ba nòng Mark 16 (4×3);
12 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (6×2);
28 × pháo phòng không Bofors 40 mm (6×4, 2×2);

10 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp chính: 3,25–5 in (83–127 mm);
sàn tàu: 2 in (51 mm);
tháp pháo: 1,5–6 in (38–152 mm);
bệ tháp pháo: 6 in (150 mm);
tháp chỉ huy: 2,25–5 in (57–127 mm)
Máy bay mang theo: 4 × thủy phi cơ SOC Seagull
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Pasadena (CL–65) là một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Cleveland được hoàn tất trong hoặc ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tên của nó được đặt theo thành phố Pasadena thuộc tiểu bang California, và nó là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ mang cái tên này. Pasadena đã phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương từ khi đưa vào hoạt động cho đến khi chiến tranh kết thúc. Pasadena ngừng hoạt động vào năm 1950 và bị tháo dỡ vào năm 1970.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Pasadena được đặt lườn vào ngày 6 tháng 2 năm 1943 tại Xưởng tàu Fore River của hãng Bethlehem Steel tại Quincy, Massachusetts. Nó được hạ thủy vào ngày 28 tháng 12 năm 1943, được đỡ đầu bởi Bà C.G. Wopschall, và được đưa ra hoạt động vào ngày 8 tháng 6 năm 1944 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Richard B. Tuggle.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến tranh Thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Được đưa vào hoạt động khi các đòn tấn công được tung ra nhắm vào quần đảo Mariana, Pasadena hoàn tất việc thử máy và huấn luyện vào mùa Hè năm 1944, và vào ngày 25 tháng 9 đã lên đường đi sang Thái Bình Dương. Nó băng qua đường đổi ngày quốc tế vào ngày 3 tháng 11 và tiếp tục hành trình, gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 38, lực lượng tàu sân bay nhanh tại Ulithi vào giữa tháng. Cho đến hết năm đó, chiếc tàu tuần dương tham gia các hoạt động của lực lượng này tại LuzonĐài Loan nhằm hỗ trợ cho Chiến dịch Philippine. Vào giữa tháng 1 năm 1945, trong khi cuộc tấn công tại Luzon đang tiến triển, lực lượng đặc nhiệm tiến vào biển Đông tấn công cơ sở và tàu bè Nhật Bản dọc theo bờ biển Đông Dương và Đài Loan. Trong tháng 2, giờ đây nằm trong thành phần Lực lượng Đặc nhiệm 58, các con tàu lại di chuyển về hướng các đảo chính quốc Nhật Bản, rồi chuyển về phía Đông Nam hỗ trợ cho cuộc đổ bộ lên Iwo Jima, nơi Pasadena góp các khẩu pháo chính của nó vào đội bắn phá cũng như tiến hành các nhiệm vụ tuần tra.

Sau khi được tiếp liệu tại Ulithi, với Pasadena nằm trong thành phần hộ tống vòng trong, lực lượng đặc nhiệm lại lên đường vào giữa tháng 3 dọn đường cho Chiến dịch Iceberg, hoạt động tấn công đổ bộ lên Okinawa cùng các đảo cực Nam Nhật Bản và phía Bắc Ryukyus. Chiếc tàu tuần dương đã ở ngoài biển liên tục trong 80, đảm nhiệm vai trò soái hạm cho Đội tàu tuần dương 17, và đã tham gia các cuộc bắn phá ban đêm xuống Minami Daito vào các ngày 28 tháng 310 tháng 5 cũng như liên tục tấn công các vị trí khác của quân Nhật tại Okinawa và Kyūshū từ ngày 1 tháng 4 đến ngày 30 tháng 5.

Sau một đợt nghỉ ngơi ngắn tại Ulithi và Leyte trong tháng 6, lực lượng lại khởi hành từ vịnh Leyte cho chuyến tấn công cuối cùng xuống các hòn đảo chính quốc đối phương vào đầu tháng 7. Từ giữa tháng 7 cho đến giữa tháng 8, chúng ném bom xuống các mục tiêu quân sự và công nghiệp chung quanh Tokyo, phía Bắc HonshūHokkaidō nhằm tiêu diệt sự đề kháng quyết liệt vốn không thể tránh khỏi khi Đồng Minh đổ bộ lên chính quốc. Tuy nhiên vào ngày 15 tháng 8, Nhật Bản đã chấp nhận các điều kiện đầu hàng.

Sau chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi xung đột tại Thái Bình Dương kết thúc, Pasadena thực hiện những nhiệm vụ chiếm đóng. Vào ngày 23 tháng 8 nó trở thành soái hạm của Đội đặc nhiệm 35.1, và đến ngày 27 tháng 8 nó thả neo tại Sagami Wan, rồi vào ngày 1 tháng 9 được chuyển đến vịnh Tokyo nơi nó chứng kiến buổi lễ ký kết đầu hàng chính thức vào ngày hôm sau diễn ra trên thiết giáp hạm Missouri. Từ đó cho đến giữa tháng 1 năm 1946, nó tiếp tục ở lại vịnh Tokyo hỗ trợ cho lực lượng chiếm đóng. Vào ngày 19 tháng 1, nó lên đường đi San Pedro, California cho một đợt đại tu đã bị trì hoãn. Công việc huấn luyện cùng các hoạt động tại chỗ được tiếp nối, và đến tháng 9 nó lại hướng sang phía Tây.

Từ tháng 11 năm 1946 đến tháng 2 năm 1947, Pasadena tham gia các cuộc thực tập hải đội tại Micronesia, và sau cuộc cơ động hạm đội tại vùng biển Hawaiian, chiếc tàu tuần dương quay trở lại California. Trong năm tiếp theo, nó tiến hành các hoạt động tại chỗ, và vào mùa Hè năm 1948 thực hiện chuyến đi huấn luyện cho Sĩ quan Trừ bị Hải quân. Ngày 1 tháng 10 năm 1948, nó lên đường đi sang Viễn Đông, đến Thanh Đảo thuộc Trung Quốc vào cuối tháng, rồi cho đến tháng 5 năm 1949 đã hoạt động ngoài khơi bờ biển Trung Quốc. Ngày 1 tháng 6, nó quay trở về California; trong mùa Hè nó tiến hành các cuộc thực tập tại chỗ, và vào ngày 12 tháng 9 đã rời Long Beach, California đi Bremerton để chuẩn bị ngừng hoạt động. Pasadena được cho xuất biên chế vào ngày 12 tháng 1 năm 1950 và bị tháo dỡ vào năm 1970.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Mobile được tặng tưởng năm Ngôi sao chiến đấu cho thành tích hoạt động trong Thế Chiến II.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]