USS Dayton (CL-105)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Dayton
Tàu tuần dương USS Dayton (CL-105)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Dayton
Đặt tên theo: Dayton, Ohio
Hãng đóng tàu: New York Shipbuilding Corporation, Camden, New Jersey
Đặt lườn: 8 tháng 3 năm 1943
Hạ thủy: 19 tháng 3 năm 1944
Đỡ đầu bởi: Bà H. Rueger
Nhập biên chế: 7 tháng 1 năm 1945
Xuất biên chế: 1 tháng 3 năm 1949
Xóa đăng bạ: 1 tháng 9 năm 1961
Danh hiệu và
phong tặng:
1 × Ngôi sao chiến đấu
Số phận: Bị bán để tháo dỡ, 6 tháng 4 năm 1962
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Cleveland
Trọng tải choán nước: 11.800 tấn Anh (12.000 t) (tiêu chuẩn)
14.131 tấn Anh (14.358 t) (đầy tải)
Độ dài: 600 ft (180 m) (mực nước)
610 ft 1 in (185,95 m) (chung)
Sườn ngang: 66 ft 4 in (20,22 m)
Độ cao: 113 ft (34 m)
Mớn nước: 20 ft (6,1 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine GE hơi nước hộp số
4 × nồi hơi ống nước Babcock & Wilcox đốt dầu, áp lực 634 psi
4 × trục
công suất 100.000 hp (75.000 kW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h; 38 mph)
Tầm xa: 14.500 nmi (26.850 km; 16.690 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.266
Vũ trang:

12 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber trên tháp pháo ba nòng Mark 16 (4×3);
12 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (6×2);
28 × pháo phòng không Bofors 40 mm (6×4, 2×2);

10 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp chính: 3,25–5 in (83–127 mm);
sàn tàu: 2 in (51 mm);
tháp pháo: 1,5–6 in (38–152 mm);
bệ tháp pháo: 6 in (150 mm);
tháp chỉ huy: 2,25–5 in (57–127 mm)
Máy bay mang theo: 4 × thủy phi cơ SOC Seagull/Vought OS2U Kingfisher
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Dayton (CL-105) là một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Cleveland được hoàn tất trong hoặc ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, và là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Mỹ được đặt theo thành phố Dayton thuộc tiểu bang Ohio. Dayton đã phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương vào giai đoạn cuối cùng cho đến khi chiến tranh kết thúc. Giống hầu hết các tàu chị em cùng lớp, nó ngừng hoạt động không lâu sau đó và được đưa về lực lượng dự bị. Dayton bị tháo dỡ vào năm 1962.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Dayton được đặt lườn vào ngày 8 tháng 3 năm 1943 tại xưởng tàu của hãng New York Shipbuilding Corporation ở Camden, New Jersey. Chi phí chế tạo nó được công dân thành phố Dayton, Ohio đài thọ một phần thông qua việc mua trái phiếu chiến tranh. Nó được hạ thủy vào ngày 19 tháng 3 năm 1944, được đỡ đầu bởi Bà H. Rueger, và được đưa ra hoạt động vào ngày 7 tháng 1 năm 1945 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Paul William Steinhagen.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Dayton đi đến Trân Châu Cảng vào ngày 15 tháng 5 để tiến hành huấn luyện, rồi đi đến vịnh San Pedro thuộc đảo Leyte, Philippines vào ngày 16 tháng 6 để tham gia Đệ Tam hạm đội. Vào ngày 1 tháng 7, nó lên đường cùng với hạm đội cho các đợt tấn công cuối cùng dọc theo bờ biển chính quốc Nhật Bản; hộ tống cho các tàu sân bay của lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay nhanh cũng như tiến hành bắn phá bờ biển. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, chiếc tàu tuần dương tiến vào vịnh Tokyo vào ngày 10 tháng 9, và ngoại trừ một giai đoạn bảo trì ngắn tại Eniwetok, nó tiếp tục nhiệm vụ chiếm đóng cho đến ngày 7 tháng 11, khi nó khởi hành quay trở về Hoa Kỳ, về đến San Pedro, California vào ngày 19 tháng 11.

Dayton lên đường từ San Pedro vào ngày 24 tháng 1 năm 1946, đi đến Trân Châu Cảng sáu ngày sau đó trên đường hướng sang Nhật Bản. Tuy nhiên, mệnh lệnh dành cho nó thay đổi vào ngày 7 tháng 2, khi nó lên đường gia nhập Hạm đội Đại Tây Dương, tiến hành các hoạt động huấn luyện tại vịnh Guatánamo, Cuba trên đường đi đến cảng nhà mới của nó là Norfolk, Virginia. Vào ngày 3 tháng 2 năm 1947, Dayton khởi hành từ Norfolk cho một lượt hoạt động tại Địa Trung Hải, tiến hành thực tập ngoài khơi Malta và một chuyến viếng thăm ngoại giao đến Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ trước khi quay trở về Boston vào tháng 6 năm đó.

Chiếc tàu tuần dương lại lên đường đi sang Địa Trung Hải vào cuối tháng 7, nơi nó phục vụ như là soái hạm của Tư lệnh Lực lượng Hải quân Địa Trung Hải. Trong lượt hoạt động này, nó được gửi đến Bari, Ý để vận chuyển rocket cần thiết cho lực lượng Anh-Mỹ đang bảo vệ Trieste đang khi diễn ra các cuộc bạo loạn tại Nam Tư. Số hàng hóa được chất dỡ tại Trieste sau một chuyến đi tốc độ cao đến thành phố này vào tháng 10 năm 1947. Chuyến viếng thăm này lại trùng hợp với một thông báo của các cường quốc phương Tây sẽ trao trả Trieste cho chính phủ mới của Ý. Công dân của thành phố dùng cơ hội này để bày tỏ sự đồng tình với quyết định trên, và đám đông đã tập trung tại bến tàu nơi Dayton neo đậu, gây ra mối lo ngại về sự an ninh của con tàu. Sau đó chiếc tàu tuần dương đi đến Venice, và sau một chuyến viếng thăm ngắn thành phố này, nó quay trở lại Trieste rồi không lâu sau đó khởi hành quay trở về Hoa Kỳ vào ngày 30 tháng 11 năm 1947.

Sau các hoạt động tại chỗ từ Newport News, Virginia và một chuyến đi khác đến Địa Trung Hải từ ngày 9 tháng 2 đến ngày 26 tháng 6 năm 1948, Dayton được cho ngừng hoạt động và đưa về lực lượng dự bị tại Boston vào ngày 1 tháng 3 năm 1949. Tên của nó được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 1 tháng 9 năm 1961, và con tàu bị bán cho hãng Boston Metals tại Baltimore, Maryland để tháo dỡ vào ngày 6 tháng 4 năm 1962.

Những hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Dayton được tặng tưởng một Ngôi sao chiến đấu cho thành tích hoạt động trong Thế Chiến II.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]