USS Amsterdam (CL-101)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Amsterdam (CL-101) at Astoria, 14 October 1945.jpg
Tàu tuần dương USS Amsterdam (CL-101), đi đến ngoài khơi Căn cứ Không lực Hải quân ở Astoria, Oregon, 14 tháng 10 năm 1945
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Amsterdam
Đặt tên theo: New York
Hãng đóng tàu: Newport News Shipbuilding, Newport News, Virginia
Đặt lườn: 3 tháng 3 năm 1943
Hạ thủy: 25 tháng 4 năm 1944
Đỡ đầu bởi: William E. Hasenfuss
Nhập biên chế: 8 tháng 1 năm 1945
Xuất biên chế: 30 tháng 6 năm 1947
Xóa đăng bạ: 2 tháng 1 năm 1971
Danh hiệu và
phong tặng:
1 × Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị bán để tháo dỡ 11 tháng 2 năm 1972
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Cleveland
Trọng tải choán nước: 11.800 tấn Anh (12.000 t) (tiêu chuẩn)
14.131 tấn Anh (14.358 t) (đầy tải)
Độ dài: 600 ft (180 m) (mực nước)
610 ft 1 in (185,95 m) (chung)
Sườn ngang: 66 ft 4 in (20,22 m)
Độ cao: 113 ft (34 m)
Mớn nước: 20 ft (6,1 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine GE hơi nước hộp số
4 × nồi hơi ống nước Babcock & Wilcox đốt dầu, áp lực 634 psi
4 × trục
công suất 100.000 hp (75.000 kW)
Tốc độ: 33 hải lý một giờ (61 km/h; 38 mph)
Tầm xa: 14.500 nmi (26.850 km; 16.690 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.266
Vũ trang:

12 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber trên tháp pháo ba nòng Mark 16 (4×3);
12 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (6×2);
28 × pháo phòng không Bofors 40 mm (6×4, 2×2);

10 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp chính: 3,25–5 in (83–130 mm);
sàn tàu: 2 in (51 mm);
tháp pháo: 1,5–6 in (38–150 mm);
bệ tháp pháo: 6 in (150 mm);
tháp chỉ huy: 2,25–5 in (57–130 mm)
Máy bay mang theo: 4 × thủy phi cơ SOC Seagull/Vought OS2U Kingfisher
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

USS Amsterdam (CL-101) là một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Cleveland được hoàn tất trong hoặc ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, và là chiếc tàu chiến thứ hai của Hải quân Mỹ được đặt theo thành phố Amsterdam thuộc tiểu bang New York. Amsterdam đã phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương trong giai đoạn cuối cùng ngay trước khi chiến tranh kết thúc. Giống hầu hết các tàu chị em cùng lớp, nó ngừng hoạt động không lâu sau đó và được đưa về lực lượng dự bị. Amsterdam bị tháo dỡ vào năm 1972.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Amsterdam được đặt lườn vào ngày 3 tháng 3 năm 1943 tại xưởng tàu của hãng Newport News Shipbuilding & Dry Dock Company tại Newport News, Virginia. Nó được hạ thủy vào ngày 25 tháng 4 năm 1944, được đỡ đầu bởi Bà William E. Hasenfuss (người "Mẹ Sao vàng" đầu tiên của thành phố Amsterdam, New York, vốn bị mất người con William E. Hasenfuss, Jr. khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng), và được đưa ra hoạt động tại Xưởng hải quân Norfolk, Portsmouth, Virginia vào ngày 8 tháng 1 năm 1945 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân Andrew P. Lawton.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hoàn tất việc trang bị tại Norfolk, Virginia, Amsterdam lên đường vào ngày 5 tháng 2 cho chuyến đi chạy thử máy tại vịnh Chesapeake. Vào ngày 17 tháng 2, chiếc tàu tuần dương khởi hành từ Hampton Roads hướng đến Trinidad cho giai đoạn hai của việc chạy thử máy. Nó hoạt động tại Trinidad cho đến ngày 13 tháng 3, khi nó lên đường quay trở lại Norfolk. Trên đường đi, nó thực hành bắn phá bờ biển ngoài khơi đảo Culebra, và về đến Norfolk vào ngày 20 tháng 3. Sau một chuyến đi ngắn đến mũi May, New Jersey để thực hành tác xạ, nó trở vào Xưởng hải quân Norfolk vào ngày 24 tháng 3 để đại tu.

Amsterdam rời xưởng tàu vào ngày 20 tháng 4 cho các cuộc thực tập huấn luyện tại vịnh Chesapeake, rồi lên đường bốn ngày sau đó hướng đến vùng biển Caribbe. Nó tiến hành các cuộc thực tập huấn luyện ngoài khơi Culebra và tại vịnh Guantánamo, Cuba rồi tiếp tục đi đến kênh đào Panama và băng qua vào ngày 5 tháng 5. Chiếc tàu tuần dương đến Trân Châu Cảng vào ngày 18 tháng 5, và đã tiến hành nhiều cuộc thực hành tác xạ và huấn luyện trong thời gian lưu lại vùng biển Hawaii.

Vào ngày 9 tháng 6, chiếc tàu tuần dương lên đường hướng sang đảo Leyte thuộc Philippines. Sau khi đi đến vịnh San Pedro vào ngày 21 tháng 6, nó trình diện để nhận nhiệm vụ cùng Đệ Tam hạm đội; và sau khi được tiếp tế và tiếp nhiên liệu, nó khởi hành cùng với Lực lượng Đặc nhiệm 38 vào ngày 1 tháng 7 để hộ tống cho các cuộc không kích xuống chính quốc Nhật Bản. Ngày 10 tháng 7, máy bay của lực lượng đặc nhiệm bắt đầu một loạt các cuộc không kích nhắm vào sân bay, nhà máy và tàu bè Nhật; trong số các mục tiêu của chúng có Tokyo, Kure, KobeOsaka. Trong chiến dịch này, Amsterdam bảo vệ cho các tàu sân bay khỏi các cuộc tấn công của máy bay và lực lượng mặt biển đối phương. Ngày 15 tháng 8, Lực lượng Đặc nhiệm 38 chuẩn bị tung ra một cuộc không kích khác xuống Tokyo khi họ nhận được tin Nhật Bản chấp nhận đầu hàng.

Trong vài tuần lễ tiếp theo, Amsterdam tiếp tục ở lại vùng biển ngoài khơi bờ biển phía Đông của đảo Honshū tuần tra đề phòng bất trắc trong quá trình thương lượng ngừng bắn. Nó tiến vào vịnh Tokyo vào ngày 5 tháng 9 và ở lại đây cho đến ngày 20 tháng 9 trước khi lên đường cho hành trình quay trở về Hoa Kỳ. Sau các chặng dừng ngắn tại vịnh Buckner, Okinawa và Trân Châu Cảng để nhận lên tàu cựu quân nhân hồi hương, con tàu về đến Portland, Oregon vào ngày 15 tháng 10 và ở lại đây hai tuần lễ để tham gia các lễ hội nhân ngày Hải quân. Chiếc tàu tuần dương lên đường đi San Pedro, California vào ngày 29 tháng 10.

Amsterdam đến San Pedro vào ngày 1 tháng 11. Sau một giai đoạn bảo trì và nghỉ ngơi, nó rời vùng bờ Tây vào ngày 19 tháng 11 hướng đến Trân Châu Cảng. Đến nơi vào ngày 25 tháng 11, nó tiếp nhận nhân sự và thiết bị để vận chuyển trở về vùng bờ Tây; lên đường vào ngày 12 tháng 12 và đến San Pedro vào ngày 18 tháng 12. Ngày 21 tháng 1 năm 1946, chiếc tàu tuần dương lên đường đi San Francisco. Không lâu sau khi đến nơi, thủy thủ đoàn của nó bắt đầu các công việc chuẩn bị để ngừng hoạt động. Amsterdam được cho xuất biên chế vào ngày 30 tháng 6 năm 1947 và được đưa về Hạm đội Dự bị Thái Bình Dương tại San Francisco. Tên của nó được cho rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 2 tháng 1 năm 1971, và con tàu bị bán cho hãng National Metal and Steel Corporation, đảo Terminal, California vào ngày 11 tháng 2 năm 1972 để tháo dỡ.

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Amsterdam được tặng tưởng một Ngôi sao chiến đấu cho thành tích hoạt động trong Thế Chiến II.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]